Danh mục sản phẩm
Lượt truy cập
  • 1
  • 139
  • 544,096

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 2/2020

  08/09/2020

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 2/2020

TT

BẢN DỊCH

  1.  

ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐỊNH LƯỢNG THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA BÁN CHI LIÊN (SCUTELLARIAE BARBATAE)

VÀ PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT VỚI LOÀI THAY THẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP UHPLC-PDA-QTOF-MS/MS

 KẾT HỢP VỚI UHPLC-MS/MS

Zhang Z và cs.

Journal of Pharmaceutical and Biomedical Analysis, 2015, 109:62-6

Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm ra khả năng sử dụng loài không chính thức Scutellaria indica L. thay cho loài chính thức Scutellaria barbata D. Don. Phương pháp UHPLC-PDA-QTOF-MS/MS là phương pháp có độ nhạy, độ đúng, độ chính xác để xác định thành phần hóa học từ các dịch chiết thô. Nghiên cứu đã phát hiện được 36 pic; xác định được cấu trúc của 28 pic bằng việc so sánh với thời gian lưu, phổ UV, dữ liệu HR-MS của các chất đối chiếu hoặc so sánh với tài liệu tham khảo. Thêm vào đó, 5 hợp chất flavonoid được định lượng bằng phương pháp ghi phổ MRM ở chế độ ion hóa âm. Kết quả chỉ ra rằng có 23 pic chung ở 2 loài. Tuy nhiên, 13 pic chỉ có ở loài S. barbata mà không có ở loài S. indica. Ngoài ra, 5 hợp chất flavonoid có hàm lượng khác nhau đáng kể. Hợp chất scutellarein không có ở S.indica, được xem là thành phần đặc trưng để phân biệt 2 loài. Với các kết quả thu được, nghiên cứu này đã chứng minh rõ ràng loài S. indica không thể được sử dụng thay thế cho loài S. barbata và cần có những nghiên cứu tiếp để xác định hiệu quả trị liệu của các dược liệu này.

Hoàng Thị Tuyết

 

 

2.

TÁC DỤNG VÀ CƠ CHẾ CHỐNG UNG THƯ CỦA BÁN CHI LIÊN (SCUTELLARIA BARBATA D. DON)

TRÊN DÒNG TẾ BÀO UNG THƯ PHỔI CL1-5

Chin-Chuan Chen  và cs.

Oncotarget 8 (65), Published online November 2017

Ung thư phổi, là khối u ác tính phổ biến nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất trên toàn thế giới. Bán chi liên (SB) là một loại thảo dược chống viêm và chống ung thư nổi tiếng. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát tác dụng chống ung thư và cơ chế điều hòa chính xác của SB trong tế bào ung thư phổi CL1-5. Trong một thử nghiệm in vitro, chúng tôi thấy rằng cơ chế chống khối u của SB là do quá trình gây apoptosis tế bào được điều hòa bởi P38 / SIRT1 thông qua việc làm ngừng pha G2/M và các con đường stress lưới nội sinh chất (ER stress), ty thể nội bào và con đường qua trung gian FAS / FASL. Cơ chế tự thực (Autophagy) cũng đóng một vai trò quan trọng trong độc tính tế bào CL1-5 của SB. Ngoài ra, SB còn có tác dụng hiệp lực với etoposid hoặc cisplatin trên các tế bào ung thư phổi. Trong một thử nghiệm in vivo, chúng tôi thấy rằng SB làm giảm đáng kể kích thước khối u cùng với giảm tăng sinh tế bào và hình thành mạch, cũng như tăng apoptosis và autophagy ở chuột mang khối u CL1-5. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc áp dụng SB trong điều trị ung thư phổi.

 

Vương Đình Tuấn, Phạm Văn Năm

3.

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MƯỜI LOẠI THẢO DƯỢC TRUNG QUỐC THÔNG DỤNG

VÀ CÁC HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH TRÊN UNG THƯ

Wei Liu và cs.

Evid Based Complement Alternat Med, 2019; 2019: 6057837, Published online 2019 Sep 15

(Trích đoạn liên quan đến nghiên cứu của bán chi liên): SB là toàn cây bán chi liên (Scutellaria barbata), một loại thảo dược đa niên trong họ Hoa môi (Lamiaceae), có hiệu quả tốt trong chống ung thư, chống vi rút và chống oxy hóa (Hình 8). Các hoạt chất chính của SB là các flavonoid, diterpenoid và polysaccharid [60]. Scutellarin là thành phần chính chiếm 10% các flavonoid. Trong lý thuyết y học cổ truyền Trung Quốc, SB và bạch hoa xà thiệt thảo Oldenlandia diffusa (OD) đều là thuốc thanh nhiệt và giải độc, vì vậy chúng thường được sử dụng kết hợp. Các nghiên cứu trên các tế bào ung thư buồng trứng cho thấy dịch chiết SB điều hòa giảm protein Bcl-2 và làm tăng protein caspase 3/9 để gây apoptosis. Khả năng di chuyển của các tế bào ung thư cũng bị ức chế, có thể liên quan chặt chẽ đến biểu hiện giảm của MMP-2/9 [61]. SB ức chế biểu hiện của HIF-1 và VEGF đưa đến ức chế sự hình thành môi trường vi mô xung quanh khối u và đã được chứng minh in vivo để ức chế sự phát triển của ung thư phổi và giảm mật độ mao mạch [62]. Ngoài ra, các polysaccharid của SB có thể làm tăng mức độ của Bax, Bak protein và E-cadherin; làm giảm mức độ protein Bcl-2, N-cadherin và vimentin; ức chế sự tăng sinh và sự chuyển đổi biểu mô-trung mô (EMT: Epithelial to mesenchymal transition) của tế bào ung thư ruột kết và thúc đẩy quá trình apoptosis của chúng [63]. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ứng dụng kết hợp SB và OD có thể thúc đẩy quá trình apoptosis của các tế bào ung thư bàng quang bằng cách điều chỉnh giảm biểu hiện của miR-155 và con đường truyền tín hiệu điều hòa Akt. Trong khi đó, biểu hiện của McL-1 và Bcl-2 cũng bị ức chế, và biểu hiện của caspase 3 được điều chỉnh tăng [64]. Trong các thí nghiệm in vivo trên chuột cho thấy dịch chiết ethanol của bán chi liên (EESB) làm giảm đáng kể biểu hiện của protein Ki-67, một marker của tăng sinh tế bào của ung thư đại trực tràng. Ngoài ra, con đường truyền tín hiệu Wnt/β-catenin, proto-oncogene c-myc và protein kháng apoptotic survivin đều bị ức chế bởi EESB[65]. Ngoài ra, EESB ức chế hoạt hóa STAT3 qua trung gian IL-6- trong các tế bào ung thư đại trực tràng và điều hòa giảm biểu hiện của cyclin D1 và CDK4 [66]. Một thí nghiệm trên chuột mang khối u C26 cho thấy SB polysaccharid có thể ức chế sự phát triển của khối u bằng cách kích hoạt caspase 3/9 [67]. Sự kết hợp giữa bán chi liên (Scutellaria barbata) và bạch hoa xà thiệt thảo (Oldenlandia diffusa) có thể tăng cường hiệu quả chống ung thư của nhau, đây là điểm mấu chốt của liệu pháp thảo dược chống ung thư. Sự kết hợp của 2 thảo dược này chủ yếu điều trị ung thư đường tiêu hóa, ung thư phụ khoa, ung thư phổi, ung thư bàng quang và các bệnh ung thư khác.

Phạm Văn Năm

4.

GHI NHẬN PHÂN BỐ MỚI CỦA LOÀI BÁN CHI LIÊN (SCUTELLARIA BARBATA D. DON), HỌ BẠC HÀ

VÀ MỘT LOÀI THUỘC CHI BÁN CHI LIÊN (SCUTELLARIA) ĐƯỢC XÁC ĐỊNH SAI Ở HÀN QUỐC

Yoonkyung LEE và cs.

Korean Journal of Plant taxonomy 2018; 48(2):123-128

Các nghiên cứu phân loại trước đây về chi bán chi liên Hàn Quốc đã công bố ghi nhận loài Scutellaria hastifolia L. ở Hàn Quốc dựa trên ba tiêu bản mẫu vật. Trong quá trình kiểm tra lại các tiêu bản này, chúng tôi thấy rằng đặc điểm lá của các tiêu bản này khác với mẫu chuẩn của S. hastifolia. Dựa trên nghiên cứu tài liệu và so sánh với mẫu chuẩn, tiêu bản trước đây được ghi nhận là S. hastifolia đã  được xác định lại là của loài bán chi liên (S. barbata D. Don). S. hastifolia  khác biệt với S. barbata ở hai bên mép lá có răng cưa dễ thẫy và kích thước lá lớn hơn. Ngoài các điểm phân bố của ba tiêu bản được sử dụng trong nghiên cứu trước đó, một điểm phân bố của bán chi liên mới được tìm thấy ở khu vực phía Nam của Hàn Quốc. Trong nghiên cứu này, chúng tôi công bố một điểm phân bố mới của bán chi liên ở Hàn Quốc, sửa công bố trước đây về S. hastifolia, mô tả đặc điểm hình thái của S. barbata và đưa ra một khóa phân loại cho chi Scutellaria Hàn Quốc bao gồm loài bán chi liên.

Tô Minh Tứ

5.

PHÂN LOẠI SCUTELLARIA TAIPEIENSIS (HỌ BẠC HÀ – LAMIACEAE) DỰA TRÊN DỮ LIỆU

 HÌNH THÁI VÀ PHÂN TỬ

Chien-Ti Chao và cs.

PhytoKeys 140:33-35,24 Feb 2020

Ở Đài Loan, chi Scutellaria bao gồm 8 loài phân bố ở độ cao từ 50 đến 2000m. Trong số đó, bán chi liên (S. barbata) và S. taipeiensis rất giống nhau dựa trên hình thái và thông tin trình tự DNA lạp thể. Do đó, một nghiên cứu toàn diện về phân loại của S. taipeiensis là cần thiết. Chúng tôi đã xem xét tiêu bản mẫu vật, các tài liệu  liên quan với Bản tên hợp lệ và so sánh hình thái của hai loài này, cũng như các mối quan hệ phát sinh chủng loại. Tất cả bằng chứng, bao gồm các đặc điểm chẩn đoán giữa S. taipeiensis và bán chi liên, đưa ra  đó là một loài chứ không phải hai loài khác nhau. Do đó, S. taipeiensis được coi là tên đồng danh của loài bán chi liên.

Tô Minh Tứ

6.

NỘI DUNG CHÍNH BIỆN PHÁP KỸ THUẬT VÀ HÌNH THỨC SINH SẢN CỦA BÁN CHI LIÊN

Wang ZQ và cs

 Tạp chí nông nghiệp điện tử Phúc Kiến  ICP mã số 15013121, số 4, ngày   14/8/2015

Gieo hạt:  Hạt bán chi liên thường được gieo vào tháng tư và hạt có khả năng nảy mầm tốt ở nhiệt độ 20oC. Có thể gieo trên luống ruộng hoặc trồng trong chậu, trong quá trình gieo hạt phải cẩn thận, hạt nảy mầm trong điều kiện phải có ánh sáng, sau khi gieo hạt xong có thể rắc một lớp đất mỏng hoặc không. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm là 21-24oC, hạt có thể nảy mầm khoảng 7 ngày sau khi gieo. Khi nhiệt độ đất khoảng 21 °C vào ban ngày và khoảng 16 °C vào ban đêm, hạt nảy mầm nhanh hơn và cây con khỏe, nhưng sinh trưởng ban đầu rất chậm. Từ khi gieo đến nở hoa là 2,5 tháng.  Hạt có sức sống mạnh mẽ, và có thể nảy mầm sau khi được lưu trữ trong 3 đến 4 năm. Có khả năng phát tán rộng. Sau khi  trồng, đất trong chậu được giữ ẩm, mỗi một năm vào mùa xuân cây có khả năng mọc lứa mới. Giâm cành: Thường áp dụng khi quy mô canh tác nhỏ. Có thể giâm trực tiếp trên luống hoặc trong chậu. Mỗi chậu 3-5 cành. Địa điểm giâm cành cần được che mưa nếu không cành giâm rất dễ bị thối. Cành được giâm vào mùa hè, nên chọn cành khỏe mạnh để cắt giâm với chiều dài cành giâm khoảng 5-6 cm. Sau giâm 10 – 12 ngày bắt đầu  ra rễ và rất dễ dàng sống sót phát triển thành cây và ra hoa. Cách trồng trong chậu: Khi cây có 3 lá thật thường được mang trồng trên chậu hoa, đường kính là 15 cm thì mỗi chậu 3 cây, đường kính 20 cm thì mỗi chậu 5-6 cây  khoảng cách là 10-15 cm. Cây phát triển tốt nhất trên đất màu mỡ, tơi xốp, thoát nước tốt. Tránh trồng trong những vùng trũng thấp, khó thoát nước. Nếu trồng cây trong chậu thì dùng đất vườn, mùn lá và phế phụ phẩm khác. Nếu không chọn đất tốt thì thân cành dễ bị thối. Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho cây bán chi liên sinh trưởng phát triển là 20-30oC. Cây chịu lạnh kém, nhiệt độ tối thiểu không nên dưới 8°C, cây có thể chịu được nhiệt độ cao nhưng trên 30oC thì ảnh hưởng tới việc nở hoa và số lượng hoa ít. Ánh sáng:Trong suốt quá trình sinh trưởng, đầy đủ ánh sáng là yếu tố cần thiết để cây sinh trưởng và ra hoa bình thường. Vào mùa hè, khi nhiệt độ cao, là thời điểm mà tốc độ sinh trưởng và ra hoa của cây mạnh mẽ nhất. Khi phải chịu bóng râm, cây sẽ vươn dài, ra hoa ít và nhỏ. Nếu gặp mưa hoặc thời tiết mưa thì hoa nở ít, cây dễ bị thối rễ. Bán chi liên ra hoa vào buổi sáng, giống như hoa mười giờ; nếu nhiệt độ cao trong ngày thì hoa sẽ khép lại nhanh hơn.

Tưới nước: Bán chi liên có khả năng chịu hạn rất tốt do thân lá có khả năng trữ nước. Vì vậy, cây có khả năng chịu hạn và có thể ra hoa trong điều kiện tương đối khô. Tuy nhiên, để cây sinh trưởng phát triển tốt và ra hoa cũng cần cung cấp đủ lượng nước. Tránh tưới nước quá ẩm ướt và ngập nước, khi bị ngập 7 cm cây rất dễ ngoi lên trên mặt nước và thời gian dài sẽ làm cho cây thân cao, lá mảnh khảnh, thậm chí bị chết. Tưới nước nên tuân theo một nguyên tắc "không khô không tưới, tưới nhỏ giọt thấm đẫm", tránh những nơi quá ẩm ướt. Trong mùa, sau mưa cần kịp thời tháo nước ra khỏi chậu hoặc ruộng. Ẩm độ môi trường: Thích hợp môi trường khô ráo, độ ẩm tương đối của không khí không được quá cao, nếu không sẽ gây ra hiện tượng thân cây thối. Phân bón: Cây yêu cầu phân bón không nhiều nhưng cây cần được bón hợp lý để cây sinh trưởng và ra hoa thuận lợi. Nếu bón không đúng thời gian thì cây sinh trưởng kém hoa sẽ nhỏ và ít. Trong thời gian sinh trưởng, cây cần được bón thúc từ 2 đến 3 lần phân đạm và lân. Cần tiến hành xới xáo, phá váng, dặm cây vào mùa hè và nửa tháng bón 1 lần phân đạm và lân kết hợp phân chuồng để thúc đẩy cây sinh trưởng và ra hoa mạnh mẽ. Phòng chống sâu bệnh hại: Các loại nguy hiểm như rỉ sét và côn trùng…

                                           Phan Thị Lâm

7.

SCUTELLARIA L. ,MỘT CHI QUAN TRỌNG CỦA KHU VỰC ÂU Á

Ersin Minareci và Sinem Pekönür

Biology, Vol. 4, Issue 1 (2017):35-46

Scutellaria được tìm thấy trên mọi lục địa ngoại trừ Nam Cực. Đặc biệt nó được tìm thấy ở khu vực Á - Âu nơi tập trung số lượng loài nhiều nhất. Mục tiêu của nghiên cứu này tập trung vào tầm quan trọng của chi này. Các loài Scutellaria cần được xác định giá trị và đánh giá bởi vì chi Scutellaria rất giàu flavonoid và diterpenoid và có nhiều tác dụng dược lý như chống ung thư, chống tạo mạch, chống viêm gan, chống oxy hóa, chống co giật, kháng khuẩn, chống vi rút và ức chế tế bào ung thư. Hơn nữa, các loài Scutellaria có hoa rất đẹp. Một số quốc gia như Hoa Kỳ và Trung Quốc đã nghiên cứu được kỹ thuật canh tác của chi này và họ trồng một số loài Scutellaria như một sản phẩm trồng trọt và trang trí. Tuy nhiên, ở Thổ Nhĩ Kỳ, việc trồng trọt ở quy mô lớn vẫn chưa được thực hiện. Các loài Scutellaria có thể được trồng để đạt được lợi ích kinh tế và sinh thái. Mặc dù các quần thể hoang dã của chi Scutellaria phân bố rộng rãi trên thế giới, một số loài này đang trở nên hiếm hoặc bị đe dọa với áp lực suy giảm số lượng quần thể, ô nhiễm môi trường và phá hủy môi trường sống tự nhiên của chúng. Bảo tồn bằng trồng trọt là một phương pháp hiệu quả để bảo vệ nguồn gen.

Hoàng Thúy Nga


 (Nguồn tin: Viện Dược liệu)

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả