Danh mục sản phẩm
Lượt truy cập
  • 1
  • 57
  • 430,990

Bản tin dược liệu số 3/2019: Chuyên đề giảo cổ lam

  20/09/2019

Bản tin dược liệu số 3/2019: Chuyên đề giảo cổ lam

Các nghiên cứu về nông nghiệp

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 3/2019

 

TT

BẢN DỊCH

1

 

ẢNH HƯỞNG CỦA BA, NAA VÀ 2,4-D TRÊN VI NHÂN GIỐNG GIẢO CỔ LAM

 GYNOIUSMA PENTAPHYLLUM MAKINO)

 

Anchalee Jala và cs.

International Transaction Journal of Engineering, Management, & Applied Sciences & Technologies. Volume 3  No.4 July 2012

 

Chồi ngọn và chồi nách của giảo cổ lam đã được sử dụng làm vật liệu nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 0,05; 0,1 và 1,0 mg / l BA. Sau 12 tuần, các chồi mới xuất hiện và môi trường MS chứa 1,0 mg / l BA đã cho hệ số nhân chồi cao nhất (7.28 chồi) và chiều cao chồi trung bình đạt 2,22 cm. Lá non được sử dụng làm mẫu cấy để tạo mô sẹo. Các vật liệu được nuôi cấy trên MS có bổ sung 2,4-D với nồng độ khác nhau (0,1; 0,5 và 1,0 mg / l). Sau 12 tuần, các vật liệu nuôi cấy trên môi trường MS được bổ sung 2,4-D với nồng độ 1,0 mg/l hình thành mô sẹo lớn nhất với đường kính trung bình là 0,9375 cm. Khi nuôi cấy giảo cổ lam trên môi trường MS có bổ sung kết hợp giữa (0,05, 0,1, 1,0 và 2,0 mg/l) BA và (0,05, 0,1 và 1,0 mg/l) NAA trong 12 tuần. Kết quả môi trường MS được bổ sung 1,0 mg / l BA và 0,1 mg/l NAA cho ra số lượng chồi mới trung bình cao nhất (6,8 chồi) và môi trường MS được bổ sung 2,0 mg / l BA và 0,05 mg / l NAA cho số lượng chồi mới trung bình thấp nhất (2,7 chồi) và chiều dài rễ trung bình 1,8 cm. Cây non được hình thành hoàn chỉnh và có thể đưa ra môi trường in vivo.

 

Hoàng Thị Sáu, Đào Thu Huế, Chu Thị Thúy Nga

 

2

 

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI HORMON NGOẠI SINH VÀ NỒNG ĐỘ CỦA CHÚNG

 ĐỐI VỚI SỰ KÍCH THÍCH CALLUS CỦA GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

CAI Zhengwang và cs.

Journal of Ankang University -  S567.237· May 2014

 

Chồi mầm, thân, lá của Gynostemma được sử dụng làm mẫu cấy trên môi trường MS với các loại hormone ngoại sinh khác nhau ở tỷ lệ khác nhau nhằm kích thích sự hình thành mô sẹo của Gynostemma. Kết quả cho thấy: các nồng độ hormon ngoại sinh khác nhau cho sự kích thích hình thành mô sẹo ở chồi, thân và mô sẹo lá khác nhau. Trong môi trường MS + 6- BA 1,0 mg / L + NAA 0,02mg / L các chồi mầm được kích thích hình thành mô sẹo tốt nhất với tỷ lệ 75,0% và sự sinh trưởng mô sẹo tốt, môi trường MS + 6- BA 2,0 mg / L + NAA 0,2 mg / L cho tỷ lệ hình thành mô sẹo tốt nhất ở thân cây với tỷ lệ 81,8%, mô sẹo tăng trưởng tốt, và môi trường MS + 6- BA 1,0 mg / L + NAA 0,15mg / L mang lại hiệu quả tốt cho sự hình thành mô sẹo lá với tỷ lệ 69,2%.

 

Trần Thị Kim Dung

3

NỒNG ĐỘ CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG TRONG PHÂN BÓN HỮU CƠ, PHÂN ĐỘNG VẬT, THỨC ĂN

VÀ SỰ Ô NHIỄM CADMIUM TRONG TRÀ THẢO MỘC GIẢO CỔ LAM

 GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM MAKINO)

 

Sumontha Nookabkaew và cs.

J. Agric. Food Chem., 2016, 64 (16), pp 3119–3126DOI: 10.1021/acs.jafc.5b06160Publication Date (Web): April 8, 2016

 

Thái Lan là một quốc gia phần lớn dựa vào nông nghiệp. Nông nghiệp hữu cơ được đưa vào chương trình nghị sự quốc gia quan trọng để thúc đẩy an toàn thực phẩm và xuất khẩu quốc tế. Nghiên cứu hiện tại được tiến hành nhằm xác định nồng độ các nguyên tố vi lượng trong phân bón hữu cơ thương mại (được lên men và không lên men) bao gồm hỗn hợp phân lợn và phân trâu bò có sẵn ở Thái Lan. Phân lợn và trâu bò cũng như thức ăn chăn nuôi cũng được thu thập từ các trang trại nuôi động vật hoặc chợ. Kết quả được so sánh với tài liệu tham khảo từ các quốc gia khác. Phân bón lên men gồm phân lợn chứa nồng độ nitơ (N) và phốt pho (P) cao hơn phân trâu bò. Nồng độ cao của đồng (Cu) và kẽm (Zn) cũng được tìm thấy trong phân hóa học và phân chuồng. Một số phân bón hữu cơ có nồng độ asen (As), cadmium (Cd) và chì (Pb) cao. Phạm vi nồng độ As trong các loại phân bón này là 0,50 đến 24,4 mg / kg, trong khi đó, phạm vi của Cd và Pb lần lượt là 0,10 đến 11,4 và 1,13 đến 126 mg/kg. Hơn nữa, phân lợn chứa As và Cd (lần lượt là 15,7 và 4,59 mg / kg), cao hơn trong phân trâu bò (lần lượt là 1,95 và 0,16 mg / kg). Việc sử dụng phân lợn để bổ sung cho đất cũng dẫn đến ô nhiễm Cd cao trong trà thảo dược giảo cổ lam. Nồng độ Cd trong cây giảo cổ lam tỷ lệ thuận với nồng độ Cd trong đất. Do đó, việc sử dụng một số phân bón hữu cơ hoặc phân động vật cho đất nông nghiệp có thể làm tăng một số yếu tố gây độc tiềm tàng trong đất, có thể được cây trồng hấp thụ, do đó, làm tăng nguy cơ ô nhiễm trong các sản phẩm nông nghiệp.

Trần Thị Kim Dung

4

TRÌNH TỰ PHIÊN MÃ CỦA GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)  ĐỂ XÁC ĐỊNH GEN

 VÀ ENZYM LIÊN QUAN ĐẾN SINH TỔNG HỢP TRITERPENOID

 

Qicong Chen và cs.

International Journal of Genomics, Volume 2016, Article ID 7840914, 10 pages

 

Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), một loại cây thân thảo sống lâu năm với nhiều đặc tính y học quan trọng, được phân bố rộng rãi ở châu Á. Gypenosid (triterpenoid saponin), hoạt chất chính của G. pentaphyllum, đã được nghiên cứu nhiều. FPS (farnesyl pyrophosphate synthase), SS (squalene synthase) và SE (squalene epoxidase) là các enzym chính tham gia vào quá trình tổng hợp saponin triterpenoid. Xem xét các chức năng y học quan trọng của G. pentaphyllum, cần thiết phải điều tra thông tin phiên mã của G. Pentaphyllum, làm cơ sở cho các nghiên cứu về quy tắc phiên mã trong tương lai. Sau khi giải trình tự G. pentaphyllum, chúng tôi thu được 50.654.7708 unigenes. Tiếp theo, chúng tôi đã sử dụng RPKM (số lần đọc trên mỗi kilobase trên một triệu lần đọc) để tính toán biểu hiện của đơn gen và chúng tôi đã thực hiện so sánh dữ liệu của chúng tôi với dữ liệu có trong năm cơ sở dữ liệu chung để chú thích các khía cạnh khác nhau của unigenes. Cuối cùng, chúng tôi nhận thấy rằng FPS, SS và SE cho thấy sự biểu hiện khác biệt của các enzyme trong DESeq. Lá cho thấy biểu hiện cao nhất của FPS, SS và SE so với hai mô còn lại. Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp thông tin phiên mã của G. pentaphyllum trong môi trường tự nhiên của nó và chúng tôi đã tìm thấy sự thống nhất trong biểu hiện của unigenes, biểu hiện enzyme (FPS, SS và SE) và phân bổ hàm lượng gypenosid trong G. pentaphyllum. Kết quả của chúng tôi là tiền đề cho các nghiên cứu liên quan đến G. pentaphyllum sau này.

 

Trần Thị Kim Dung

5

TỔNG QUAN VỀ PHÂN LẬP, CẤU TRÚC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA CÁC POLYSACARID 

TỪ GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM (THUNB.) MAKINO)

 

Xiaolong Ji và cs.

BioMed Research International, Volume 2018, Article ID 6285134, 14 pages

 

Polysacarid thu được từ giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino) có triển vọng đầy hứa hẹn trong ngành thực phẩm chức năng và dược phẩm do có nhiều hoạt tính sinh học bao gồm chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, chống ung thư, bảo vệ gan, chống suy nhược thần kinh. Những hoạt tính sinh học có lợi này có liên quan đến thành phần hóa học và cấu trúc của G. pentaphyllum polysacarit. Trọng lượng phân tử, thành phần monosacarit và cấu trúc hóa học có thể bị ảnh hưởng bởi cả kỹ thuật chiết/tinh chế khác nhau được sử dụng để thu được các sản phẩm làm giàu polysacarit. Bài viết này đưa ra tổng quan các tài liệu trước đây và hiện tại liên quan đến việc chiết xuất, tinh chế, đặc điểm cấu trúc và hoạt tính sinh học của polysacarid từ G. pentaphyllum. Tổng quan này cung cấp một thư mục hữu ích cho việc điều tra, sản xuất và ứng dụng của polysacarid từ G. pentaphyllum như thực phẩm chức năng và dược phẩm.

Trần Thị Kim Dung

6

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG ÁNH SÁNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, TÍCH LŨY GYPENOSID TỔNG SỐ 

VÀ QUANG HỢP TRONG GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

Xiaolie và cs.

Botanical Sciences,95 (2): 235-243, 2017

 

Mở đầu: Giảo cổ làm (Gynostemma pentaphyllum) là một loại cây chịu bóng, có thể tổng hợp và tích lũy gypenosid với số lượng lớn. Các gypenosid là một loại thuốc quý có tác dụng chống tăng huyết áp, tăng mỡ máu, béo phì, rối loạn thần kinh, chống viêm, điều chỉnh hệ miễn dịch, tiểu đường và các khối u.

Giả thuyết: Chất lượng ánh sáng đã được chứng minh là có tác động rõ rệt đến sự tăng trưởng và tích lũy gypenosid ở G. pentaphyllum, và chắc chắn ảnh hưởng đến quá trình quang hợp. Vì vậy, có thể tồn tại một số mối liên quan giữa các chỉ tiêu này.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Các thí nghiệm được thực hiện vào cuối tháng 5 năm 2014 tại Đại học Jishou, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

Phương pháp: Theo dõi các đặc điểm sinh trưởng và quang hợp cũng như xác định gypenosid tổng số được tiến hành trên cây con được trồng trong các điều kiện chất lượng ánh sáng khác nhau, bao gồm ánh sáng trắng, đỏ, xanh lam và xanh lục phát ra từ đèn LED.

Kết quả: Chất lượng ánh sáng có tác động rõ rệt đối với sự phát triển của thực vật, tích lũy gypenosid tổng số và quá trình quang hợp. Ánh sáng trắng có tác động đáng kể đến việc tăng sinh khối, đường kính thân và chồi lá so với ánh sáng đơn sắc. So với ánh sáng xanh lam và xanh lục, ánh sáng trắng cho hàm lượng gypenosid tổng số cao hơn và gần với kết quả từ ánh sáng đỏ, cho thấy ảnh hưởng của ánh sáng trắng đối với sự tích lũy gypenosid có liên quan đến ánh sáng đỏ. Tỷ lệ quang hợp thực tế dưới ánh sáng đỏ cao hơn so với ánh sáng xanh lam hoặc xanh lục, nhưng rõ ràng là thấp hơn so với ánh sáng trắng.

Kết luận: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của chất lượng ánh sáng đến sự tăng trưởng và tích lũy gypenosid tổng số có liên quan đến hiệu quả quang hợp của cây.

Trần Văn Thắng, Trần Thị Kim Dung

7

 

NÂNG CAO SỰ HÌNH THÀNH VÀ SẢN XUẤT RỄ TỰ SINH, VÀ TÍCH LŨY SAPONIN BẰNG NUÔI CẤY IN VITRO CÂY GIAO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

P.C. Khai và cs.

Acta Hortic, 2018, 1224, 109-118

 

Giao cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) là một loại dược liệu quý hiếm được sử dụng cho sức khỏe của con người vì nó có chức năng y học như đặc tính chống căng thẳng, phục hồi cân bằng cơ thể, cải thiện trí nhớ, ngăn ngừa huyết khối, ức chế sự phát triển của khối u và điều trị bệnh tiểu đường , v.v. Tuy nhiên, khả năng sản xuất đó vẫn còn hạn chế và không thể đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Ngày nay, sự phát triển của công nghệ tế bào thực vật đã mở ra một hướng mới để giải quyết một số vấn đề trong lĩnh vực trồng trọt. Đặc biệt, sự hình thành rễ tự sinh từ nuôi cấy in vitro để tập hợp sinh khối được coi là một kỹ thuật hiệu quả. Các mẫu mô lá từ cây con in vitro 42 ngày tuổi được nuôi cấy trên môi trường Murashige và Skoog (MS) bổ sung axit axetic napthalene (NAA) ở mức 1,5 mg L-1 đã cho ra mô sẹo với tỷ lệ cao nhất (77,78%). Tỷ lệ hình thành mô sẹo rễ là tối ưu trên môi trường MS được thêm axit indolebutyric (IBA) 0,5 mg L-1 và đạt 91,11%. Môi trường Schenk và Hildebrandt (SH) được thêm IBA 0,5 mg L-1 và NAA 0,5 mg L-1 phù hợp cho sự tăng nhanh sinh khối rễ trong môi trường lỏng với trọng lượng sinh khối rễ cao nhất vào ngày 28 của quá trình nuôi cấy. Việc bổ sung methyl jasmonate (MJ) vào các môi trường không làm tăng nhanh sinh khối rễ nhưng nó giúp tăng hàm lượng saponin. MJ ở mức 10 mg L-1 làm tăng hàm lượng saponin trong sinh khối rễ ở mức cao nhất.

Trần Thị Kim Dung

8

ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TĂNG CO2 VÀ NHIỆT ĐỘ ĐẾN ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HỌC 

VÀ CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA CÂY GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

Jia-Dong Chang và cs.

Journal of plant physiology 196-9,March 2016

 

Gần đây, một chủ đề nghiên cứu quan trọng được đề cập nhiều là “Biến đổi khí hậu đang đe dọa nghiêm trọng đến sự bền vững của sản xuất nông nghiệp như thế nào”. Tuy nhiên, có rất ít dữ liệu thực nghiệm về sự tăng lên của nhiệt độ và hàm lượng CO2 ảnh hưởng đến sự phát triển của cây thuốc và sản xuất các hoạt chất sinh học. Ở đây, chúng tôi đã phân tích toàn diện ảnh hưởng của sự tăng CO2 và nhiệt độ đến quá trình quang hợp, sinh khối, đường tổng số, hợp chất chống oxy hóa, khả năng chống oxy hóa và các hoạt chất sinh học của giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum). Hai nồng độ CO2 khác nhau [360 và 720μmol mol (-1)] được sử dụng cho sự sinh trưởng của cây ở hai mức nhiệt độ khác nhau là 23/18 và 28/23°C (ngày/đêm) trong 60 ngày. Kết quả cho thấy sự tăng CO2 và nhiệt độ làm tăng đáng kể về sinh khối, đặc biệt là tỷ lệ tổng trọng lượng khô của hoa. Hàm lượng chất diệp lục trong lá tăng dưới điều kiện nhiệt độ và CO2 tăng lên. Thêm nữa, tốc độ vận chuyển điện tử (ETR), làm chậm sự quang hóa (qP), năng suất lượng tử quang hóa thực tế (Yield), tốc độ quang hợp tức thời (Photo), tốc độ thoát hơi nước (Trmmol) và độ dẫn của khí khổng (Cond) cũng tăng lên ở các mức độ khác nhau khi tăng CO2 và nhiệt độ. Hơn nữa, CO2 tăng cao làm tăng lượng đường tổng số và gypenoside A, nhưng làm giảm tổng khả năng chống oxy hóa và các hợp chất chống oxy hóa chính trong các bộ phận khác của G. pentaphyllum. Sự tích lũy của phenolics và flavonoid tổng số cũng giảm trong lá, thân và các cụm hoa dưới sự tăng CO2 và nhiệt độ. Nhìn chung, số liệu của chúng tôi chỉ ra rằng sự gia tăng dự đoán về nhiệt độ trong khí quyển và CO2 có thể cải thiện sinh khối của G. pentaphyllum, nhưng chúng sẽ làm giảm các đặc tính tăng cường sức khỏe.

Lê Đức Tâm

9

SỰ ĐA DẠNG CỦA NẤM EUMYCETES NỘI SINH TRONG GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 VÀ SỰ TƯƠNG QUAN CỦA NÓ VỚI GYPENOSIDE XLIX

 

Ma S. L. và cs.

Zhong Yao Cai. 2015 Mar;38(3):476-80

 

Mục tiêu: Nghiên cứu mối tương quan giữa các hoạt chất và nấm eumycetes nội sinh trong các mẫu giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) khác nhau từ các môi trường sống khác nhau.

Phương pháp: Các nấm eumycetes nội sinh từ các phần khác nhau của Gynostemma pentaphyllum được phân lập bằng các phương pháp phân lập phổ biến. Phương pháp cấy và phương pháp cấy điểm được sử dụng để nhận dạng. Hàm lượng của gypenoside XLIX được xác định bằng HPLC.

Kết quả:125 nấm eumycetes nội sinh sống trong Gynostemma pentaphyllum được phân lập từ rễ, thân rễ và lá. Theo hình thái khuẩn lạc và đặc điểm vi mô, 22 chi từ 10 họ, 7 bộ, 2 lớp đã được xác định. Fusarium là chủng nấm eumycetes nội sinh đa dạng nhất có trong Gynostemma pentaphyllum với số lượng chiếm 22. 4%. Penicillium và Leptosphaeria lần lượt là 12. 8% và 9. 6%. Mối tương quan giữa Gypenoside XLIX và nấm eumycetes nội sinh trong Gynostemma pentaphyllum đã được tiết lộ.

Kết luận: Nấm Eumycetes nội sinh rất đa dạng về chủng loại và số lượng. Các loài nấm eumycetes nội sinh có liên quan đến chất lượng của Gynostemma pentaphyllum.

Lê Đức Tâm

10

PHIÊN MÃ CỦA MẪU GEN CATALASE TỪ GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM (THUNB.) MAKINO) TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG PHI SINH HỌC KHÁC NHAU

 

Johan Sukweenadhi và cs.

KnE Life Sciences | International Conference on Natural Resources and Life Sciences (NRLS-2016) | pages: 99-109

 

Catalase (CAT) là một nhóm các enzym có thể bảo vệ các tế bào chống lại tác hại của oxy hoá được tạo ra bởi các loài phản ứng với oxy. Một cDNA CAT trước đây đã được phân lập và mô tả từ cây giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum (Thunb.)) được trồng thủy canh 3 tháng tuổi. Gen ORF có 1.479 bp được suy ra từ chuỗi axit amin là 492 phần còn lại. CAT từ G. pentaphyllum có khối lượng phân tử 56,97 kDa với điểm đẳng điện (pI) là 6,95. Phân tích biểu hiện thời gian của các mẫu lá đã chứng minh rằng biểu hiện GpCAT có thể được điều chỉnh tăng bởi các ứng suất môi trường khác nhau như điện acid jasmonic, chất chứa oxy, muối, kim loại nặng, làm lạnh và stress nhiệt trong một khoảng thời gian nhất định. Một mô hình cấu trúc ba chiều của G. pentaphyllum dựa trên chuỗi trình tự cDNA GpCAT của nó. Mẫu biểu hiện thời gian cho thấy rằng GpCAT có thể đóng một vai trò trong phản ứng bảo vệ phân tử của G. pentaphyllum đối với các yếu tố phi sinh học.

Lê Đức Tâm

11

BÁO CÁO ĐẦU TIÊN VỀ BỆNH PHẤN TRẮNG GÂY RA BỞI PODOSPHAERA XANTHII TRÊN GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM) TẠI HÀN QUỐC

 

S. E. Cho và cs.

The American Phytopathological Society publication,Vol. 99, No. 9 September 2015

 

Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino) là loài cây thân thảo thuộc họ Cucurbitaceae ở miền Nam Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam, miền nam Hàn Quốc và Nhật Bản. Toàn bộ cây được biết đến như một loại thuốc thảo dược được cho là có tác dụng chống oxy hóa và giảm căng thẳng mạnh mẽ đối với con người (Jeong et al. 2011). Vào tháng 10 năm 2002, một loại bệnh phấn trắng trên lá cây G. pentaphyllum mọc hoang đã được tìm thấy ở quần đảo Jeju của Hàn Quốc. Những phát hiện khác về bệnh phấn trắng từ năm 2002 đến 2014 tại một số địa điểm ở miền Nam Hàn Quốc cho thấy căn bệnh này thường xảy ra ở Hàn Quốc. Chasmothecia đã được hình thành rất nhiều ở tất cả các địa điểm vào tháng Mười. Chín mẫu tiêu bản đã được gửi tại Phòng tiêu bản Đại học Hàn Quốc (KUS). Triệu chứng của bệnh phấn trắng xuất hiện dưới dạng các tản nấm màu trắng mỏng, sau đó phát triển thành nhiều sợi nấm ở cả hai mặt của lá. Cành bào tử phân sinh đã ở dạng thẳng, kích thước từ 105 đến 200 × 10 đến 12 μm, và tạo ra 2 đến 7 bào tử chưa trưởng thành trong các chuỗi với đường viền có khía. Các tế bào chân của cành bào tử phân sinh ở dạng thẳng, hình trụ và dài từ 48 đến 85 μm. Bào tử phân sinh trong suốt, có dạng hình oval-dẹt đến  dạng hình thùng, có kích thước từ 28 đến 38 × 16 đến 22 μm với tỷ lệ chiều dài / chiều rộng từ 1,5 đến 2,1, chứa các thân xơ khác biệt và tạo ra các ống mầm ở vị trí bên. Bào tử sơ cấp có dạng hình nón cụt, cơ bản cắt ngắn và thường nhỏ hơn bào tử thứ cấp. Chasmothecia màu nâu sẫm được tìm thấy một phần được nhúng vào sợi nấm trên lá có hình cầu và đường kinh từ 75 đến 95 µm. Mỗi dạng chứa một nang duy nhất. Các tế bào bao quanh của chasmothecia có hình đa giác không đều, lớn và rộng từ 15 đến 38 µm. Các phần phụ là những hệ sợi, từ 1- đến 6- vách ngăn, màu nâu ở gốc và trở nên nhạt màu hơn. Các nang nấm với một mắt đầu cuối rộng từ 15 đến 25 µm, có độ rộng nhỏ, hình elip rộng đến hình trứng tới gần giống dạng hình cầu và từ 65 đến 90 × 52 đến 63 μm. Bào tử dạnh nang được đánh số tám trên mỗi mắt là không màu, dạng elip và kích thước từ 20 đến 26 × 12 đến 15 µm. Các cấu trúc và phép đo phù hợp với cấu trúc của Podosphaera xanthii (Castagne) U. Braun & Shishkoff (Braun và Cook 2012). Để xác định sự nhận dạng, các vùng đệm được phiên mã nội bộ hoàn chỉnh (ITS) của rDNA của các dòng phân lập KUS-F27136 và KUS-F27246 đã được khuếch đại với các đoạn mồi ITS1 / ITS4 và được giải trình tự. Các chuỗi kết quả đã được gửi vào GenBank (Accession Nos. KP120970 và KP120971). Một GenBank BLAST được tìm của dạng phân lập tại Hàn Quốc cho thấy độ tương đồng> 99% với dạng phân lập P. xanthii từ các ký chủ dưa chuột (ví dụ: AF011391 và JF912574). Tác nhân gây bệnh đã được xác nhận bằng cách ấn một chiếc lá bị bệnh lên lá non của ba cây G. pentaphyllum trong chậu khỏe mạnh. Ba cây không được lây nhiễm đóng vai trò và đối chứng. Cây được duy trì trong nhà kính ở 24 đến 34 ° C. Lá bị nhiễm bệnh phát triển sau 5 ngày, trong khi đó cây đối chứng vẫn không có triệu chứng. Bệnh phấn trắng của G. pentaphyllum gây ra bởi các loài Podosphaera đã được ghi nhận tại Nhật Bản (Farr và Rossman 2014). Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là báo cáo đầu tiên về bệnh phấn trắng do P. xanthii gây ra trên G. pentaphyllum ở Hàn Quốc. Bệnh phấn trắng từ G. pentaphyllum có khả năng gây ra mối đe dọa đối với dưa chuột.

Lê Đức Tâm

12

NHẬN DẠNG VÀ XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CHUỖI GENOME HOÀN CHỈNH CỦA VIRUS KHẢM CỎ LINH LĂNG GÂY HẠI TRÊN GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 Shuang Song và cs.

European Journal of Plant Pathology · December 2018, https://doi.org/10.1007/s10658-018-01647-1

 

Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) là một loại thảo dược Trung Quốc được trồng rộng rãi, có hoạt động phổ rộng. Trong nghiên cứu này, cây G. pentaphyllum với triệu chứng khảm lá điển hình đã được tìm thấy ở tỉnh Thiểm Tây của Trung Quốc. Nhiễm virus khảm cỏ ling lăng (AMV) được xác định bằng giải trình tự RNA nhỏ và được xác định bằng RT-PCR đặc biệt. Chúng tôi đã xác định trình tự bộ gen hoàn chỉnh của AMV-Gyn (GenBank số MH332897-MH332899). Đoạn ARNA1 với 3643 nt và RNA2 với 2598 nt được mã hóa lần lượt là protein P1 với 1126 aa và P2 là 791 aa. Đoạn RNA3 với 2040 nt được mã hóa với MP là 300 aa và CP là 221 aa. Phân tích Chuỗi phát sinh gen dựa trên trình tự gen RNA3 và CP đã nhóm AMV-Gyn thành nhóm phylogroup I với mối quan hệ tiến hóa gần nhất với AMV-Manfredi (KC881010). Không có sự tái tổ hợp nào được phát hiện. Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là báo cáo đầu tiên về một loại virus gây hại cho G. pentaphyllum.

Lê Đức Tâm

13

XÁC NHẬN PHÂN TỬ CỦA GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM) THÔNG QUA PHÁT TRIỂN

 VÀ ỨNG DỤNG KHUẾCH ĐẠI NGẪU NHIÊN ĐA HÌNH - VÙNG ĐÁNH DẤU KHUẾCH ĐẠI CHUỖI DNA

 ĐẶC TRƯNG

 

J. Zhou và cs.

Genet. Mol. Res. 14 (4): 16204-16214 (2015) Received August 22, 2015 Accepted October 1, 2015 Published December 8, 2015

 

Do sự tương đồng về hình thái của các bộ phận trên mặt đất, rất khó để phân biệt Gynostemma pentaphyllum với Cayratia japonica (thường được giả mạo giảo cổ lam). Để phát triển một phương pháp đáng tin cậy nhằm xác định và xác thực G. pentaphyllum, một nghiên cứu kết hợp kỹ thuật DNA đa hình khuếch đại ngẫu nhiên (RAPD) với các dấu hiệu vùng khuếch đại chuỗi DNA đặc trưng (SCAR). Hai mươi lăm mẫu G. pentaphyllum và hai mẫu C. japonica được thu thập từ các vùng khác nhau ở Quảng Tây hoặc được mua từ các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc. Thông qua phân tích RAPD, tính đa hình di truyền đáng kể đã được quan sát trong số các mẫu G. pentaphyllum. Hơn nữa, một điểm đánh dấu cụ thể, J-750, đã được lấy để xác thực. Do đó, điểm đánh dấu SCAR cho G. pentaphyllum (359 bp) đã được phát triển từ bộ khuếch đại RAPD. Với khuếch đại PCR sử dụng các đoạn mồi SCAR, một dải cụ thể gồm 359 bp có thể thấy rõ đối với tất cả các mẫu G. pentaphyllum được thử nghiệm, nhưng không có trong các mẫu của C. japonica. Hơn nữa, kết quả cho thấy rằng điểm đánh dấu SCAR rất hữu ích cho việc xác định và xác thực G. pentaphyllum bất kể các mẫu là tươi, khô hoặc có nguồn gốc thương mại. Điểm đánh dấu SCAR thu được trong nghiên cứu này đã xác thực thành công G. pentaphyllum thông qua hệ thống PCR tích hợp có chứa SCAR và kiểm soát kết hợp mồi của hai cặp. Ngoài ra, nó cũng được sử dụng đồng thời để phân biệt G. pentaphyllum từ C. japonica.

Nguyễn Bá Hưng

14

PHÂN TÍCH NHÂN BẢN VÔ TÍNH VÀ TRÌNH TỰ CỦA FARNESYL PYROPHOSPHATE SYNTHASE 

TỪ GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

Jiang Dong và cs.

Letters in Biotechnology:2014-02

 

Mục tiêu: Nhân bản toàn bộ cDNA mã hóa farnesyl pyrophosphate synthase (FPS) của Gynostemma pentaphyllum.

Phương pháp: Sử dụng gen FPS từ Siraitia grosvenori, các đoạn mồi được thiết kế để chỉnh sửa gen FPS của G.pentaphyllum trong 3'RACE. Bộ 3'RACE và 5'RACE đã được sử dụng để sao chép toàn bộ gen FPS cDNA của G.pentaphyllum.

Kết quả: Độ dài đầy đủ cDNA của G.pentaphyllum FPS gồm 1288 nucleotid. ORF của gen FPS G.pentaphyllum có chiều dài 1026 bp, tương ứng với số lượng polypeptid dự đoán của 342 axit amin còn lại với khối lượng phân tử tương đối là 3,94 × 104. Kết quả phân tích tương đồng trên GenBank đã chứng minh rằng các trình tự có độ tương đồng 88% ~ 78% với trình tự nucleotid và 91% ~ 74% trên trình tự acid amin được suy ra. 

Kết luận: FPS mã hóa cDNA từ G.pentaphyllum đã được tạo ra, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu mô hình biểu hiện gen của G.pentaphyllum và các phân tử triterpenoid saponin phát sinh trong quá trình tổng hợp.

Nguyễn Thị Thụ

15

ĐẶC ĐIỂM PHIÊN MÃ BẰNG CÁCH SỬ DỤNG TRÌNH TỰ KẾT HỢP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỈ THỊ EST-SSR TRONG HAI LOÀI GYNOSTEMMA (CUCURBITACEAE)

 

Yue-Mei Zhao cà cs.

Molecules 2015, 20 (12), 21214-21231

 

Gynostemma pentaphyllum là một loại thảo dược quan trọng thuộc họ Cucurbitaceae, nhưng dữ liệu nguồn gen hạn chế đã cản trở các nghiên cứu di truyền. Trong nghiên cứu này, hệ phiên mã của hai loài Gynostemma có liên quan chặt chẽ, Gynostemma cardiospermumG. pentaphyllum, đã được giải trình tự bằng cách sử dụng công nghệ giải trình tự Illumina. Tổng cộng có 71.607 đơn gen không dư thừa đã được lắp ráp. Trong số những đơn gen này, 60,45% (43.288) được chú thích dựa trên tìm kiếm tương tự trình tự với các protein đã biết. Tổng cộng có 11.059 đơn gen được xác định trong cơ sở dữ liệu của Kyoto Encyclopedia of Genes and Genomes (KEGG) ở Kyoto. Tổng cộng 3891 lần lặp trình tự đơn giản (SSR) đã được phát hiện trong 3.526 đơn gen không dư thừa, 2596 cặp mồi được thiết kế và 360 trong số chúng được chọn ngẫu nhiên để xác thực. Trong số này, có 268 cặp mồi mang lại sản phẩm rõ ràng trong số sáu mẫu G. pentaphyllum. Ba SSR marker đa hình đã được sử dụng để kiểm tra tính đa hình và khả năng chuyển đổi trong Gynostemma . Cuối cùng, 15 SSR marker được khuếch đại trong tất cả 12 loài Gynostemma đã được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền. Kết quả của chúng tôi đã tạo ra một nguồn tài nguyên toàn diện cho nghiên cứu về chuỗi gen của Gynostemma .

Nguyễn Thị Thụ

16

ĐẶC ĐIỂM, BIỂU HIỆN VÀ QUY ĐỊNH PHÂN TỬ CỦA GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM SQUALENE EPOXIDASE GEN 1

 

Huihong Guo và cs.

Plant Physiology and Biochemistry, Volume 109, 2016: 230-239

 

Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino là một loại thảo dược được biết đến lâu đời và phân bố rộng rãi ở Trung Quốc. Thảo dược này có chứa các thành phần y học quan trọng được gọi là gypenosid, thuộc dạng dammarane triterpenoid saponin. Squalene epoxidase (SE, EC 1.14.99.7) gây xúc tác epoxid hóa squalen để tạo thành oxidosqualen và là một enzym điều hòa quan trọng trong sinh tổng hợp triterpenoid saponin. Trong nghiên cứu này, một gen SE được thiết kế là GpSE1 đã được phân lập từ lá G. pentaphyllum. Chuỗi protein được dịch mã từ GpSE1 có liên quan đến chức năng xúc tác của SE. GpSE1 trong các tế bào Escherichia coli và protein tái tổ hợp được đánh dấu đã được tinh lọc thành công và tái tạo trong ống nghiệm. Huỳnh quang miễn dịch cho thấy rằng tín hiệu huỳnh quang của GpSE1 nhiều hơn đáng kể ở lá non so với lá trưởng thành và thân rễ. Phát hiện này phù hợp với sự phân bố của GpSE1 và cho thấy rằng lá non của G. pentaphyllum chủ yếu đóng vai trò là vị trí hoạt động của tổng hợp gypenosid. Methyl jasmonate (MeJA) làm tăng biểu hiện GpSE1 ở cả lá non và trưởng thành của G. pentaphyllum, với tác động lớn hơn ở lá non so với lá trưởng thành. Tuy nhiên, biểu hiện của GpSE1 không được tăng cường liên tục với sự gia tăng nồng độ MeJA. Ngoài ra, GpSE1 được điều chỉnh tối đa để phù hợp với 50 μM MeJA, không quá 100 μM MeJA. Kết quả này chỉ ra rằng nồng độ MeJA phụ thuộc vào biểu hiện của GpSE1.

Hoàng Thúy Nga

17

CÁC AXIT LINOLENIC LIÊN HỢP VÀ CÁC THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG TRONG HẠT GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

ChenZou và cs.

LWT - Food Science and Technology,Volume 68, May 2016:111-118

 

Hạt lưỡng bội và tứ bội giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) đã được khảo sát các acid linolenic liên hợp và các thành phần dinh dưỡng. Cả hai loại hạt giảo cổ lam đều giàu acid linolenic liên hợp có thể bao gồm axit α -eleostearic, catalpic và β - eleostearic cho khoảng 80% tổng số axit béo. Axit α-Eleostearic là đồng phân liên hợp sơ cấp ở mức 98,8 và 187,7 mg/g hạt khô. Hạt cũng chứa hàm lượng acid amin thiết yếu (616.3 và 541,5 μmol/g hạt khô), phytosterol (1292.0 và 2316.0 mol / kg hạt khô), tocopherol, phenolics và flavonoid. Ngoài ra, các chất chiết xuất từ hạt cho thấy không có sự khác biệt về tác dụng chống viêm của chúng trong các tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 được kích thích bằng LPS, trong khi các chiết xuất từ hạt lưỡng bội có khả năng làm sạch gốc tự do mạnh hơn và khả năng khử sắt hơn so với chiết xuất hạt tứ bội trên một đơn vị khối lượng. Các kết quả có thể được sử dụng để thúc đẩy giá trị sử dụng của hạt giảo cổ lam.

Hoàng Thúy Nga

18

HOÀN THIỆN TÁM BỘ GEN TRONG LỤC LẠP GYNOSTEMMA BL. (CUCURBITACEAE): ĐẶC ĐIỂM,

 PHÂN TÍCH SO SÁNH VÀ MỐI QUAN HỆ PHÁT SINH GEN

 

Xiao Zhang và cs.

Frontiers in Plant Science., 12 September 2017

 

Gynostemma BL., Thuộc họ Cucurbitaceae, là một chi gồm 17 loài cây thân thảo phân bố chủ yếu ở Đông Á. Nó có thể được chia thành hai phân chi dựa trên sự khác nhau giữa hình thái quả. Trong tài liệu này, chúng tôi báo cáo tám trình tự bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của chi Gynostemma. Độ dài của tám bộ gen hoàn chỉnh dao động từ 157.576 bp (G. pentaphyllum) đến 158.273 bp (G. laxiflorum). 133 gen mã hóa, bao gồm 87 gen mã hóa protein, 37 gen tRNA, tám gen rRNA và một pseudogene. Bốn loại trình tự lặp lại đã được phát hiện trong phân chi. Triostellum lớn hơn so với các loài trong phân chi Gynostema. Tỷ lệ phần trăm biến thể của tám bộ gen ở các khu vực khác nhau đã được nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng các vùng lặp lại mã hóa và đảo ngược được duy trì rất cao. Phân tích gen chỉ ra rằng chi Gynostemma là một thành viên của họ Cucurbitaceae. Mối quan hệ nguồn gốc giữa tám loài đã được thể hiện rõ ràng bằng cách sử dụng trình tự bộ gen cp hoàn chỉnh trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ cung cấp các marker phân tử và mã DNA tiềm năng cho các nghiên cứu trong tương lai và làm phong phú thêm nguồn tài nguyên gen cp hoàn chỉnh có giá trị của họ Cucurbitaceae.

Trịnh Minh Vũ

19

TRÌNH TỰ HOÀN CHỈNH BỘ GEN LỤC LẠP CỦA CÂY THUỐC GIẢO CỔ LAM

 GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

Xin-Yi Zeng và cs.

Resources, Volume 1, 2016 - Issue 1

 

Chúng tôi công bố trình tự bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của Gynostemma pentaphyllum, một cây thuốc truyền thống nổi tiếng của Trung Quốc, có hoạt chất triterpenoid saponin tương tự như nhân sâm. Bộ gen lục lạp đã hoàn chỉnh (cpDNA) có chiều dài 157,654 bp và được chia thành bốn phần với chức năng riêng biệt, đó là phần sao chép đơn lớn (86.794 bp), phần sao chép đơn nhỏ (18.654 bp) và một cặp phần lặp đảo ngược (26.103 bp) . Tổng cộng có 143 gen mã hóa, bao gồm 87 gen mã hóa protein, 10 gen tRNA và 46 gen rRNA. Phân tích phát sinh gen cho thấy trình tự bộ gen lục lạp của G. pentaphyllum có liên quan chặt chẽ nhất với Cucumis melo


Trịnh Minh Vũ

20

 

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM

Ở VÙNG NHIỆT ĐỚI NÓNG CỦA VIỆT NAM

 

Phạm Cao Khải, Trần Văn Minh

International Journal of Applied Science & Environmental Engineering – IJASET 2018, Vol. 1, Issue 1, 24-27

 

Các đoạn thân của giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) được khử trùng bằng dung dịch pha loãng (50%) trong 20 phút đạt tới 73,33% mảnh cấy vô trùng. Nuôi cấy mô các đoạn thân cắt trong ống nghiệm với môi trường MS được bổ sung 1,0 mg/L BA và 0,1 mg/L NAA cho số lượng  chồi hình thành cao nhất (6,8 chồi / mảnh cấy). Các chồi tái sinh được nuôi cấy trên môi trường ½ MS phù hợp cho sự phát triển của chồi với chiều cao 5,2 cm và 4,0 lá trên mỗi cây. Đối với sự hình thành rễ, môi trường MS được bổ sung 0,25 mg/L IBA là phù hợp và chiều dài rễ có thể là 7,6 cm trong môi trường này. Tỷ lệ cây con sống sót là 85% trong vườn

 

Tạ Quốc Vượng

21

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ THẤP TRONG THỜI GIAN NGẮN ĐẾN SỰ NẢY MẦM CỦA HẠT GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM)

 

WU Xiaoyu và cs.

Journal of  Jishou University (Natural Sciences Edition), 2016 Vol. 37, Issue 4, p 29-34

 

Để tìm hiểu phương pháp cải thiện tỷ lệ nảy mầm của hạt giảo cổ lam chúng tôi đã nghiên cứu tác động của các yếu tố khác nhau, cụ thể là chiếu sáng và nhiệt độ, hormon, bảo quản, phân tầng nhiệt độ thấp và nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn. Nhiệt độ nảy mầm dao động từ 15oC đến 25oC, chiếu sáng làm tăng tỷ lệ nảy mầm với tỷ lệ nảy mầm cao nhất(31,54 ± 2,04 %) ở nhiệt độ tối ưu 20oC. Người ta thấy rằng Cytokinin như 6-BA và zeatin không có tác dụng trong việc thúc đẩy sự nảy mầm và Gibberellin như GA3 gần như không có tác động, nhưng GA4 đã thúc đẩy tỷ lệ nảy mầm lên (54,00 ± 2,65)%. Ở 18℃, hạt giống giảo cổ lam được lưu trữ trong 30, 90 và 180 ngày. Kết quả cho thấy thời gian lưu trữ thích hợp có lợi cho việc phá vỡ cơ chế ngủ nghỉ của hạt giảo cổ lam, nhưng khi thời gian lưu trữ quá lâu tốc độ nảy mầm giảm nhanh chóng hoặc thậm chí đến không. Các thống kê về xử lý phân tầng nhiệt độ thấp cho thấy hiệu quả của phân tầng nhiệt độ thấp là không rõ ràng. Trong phân tầng nhiệt độ thấp trong 90 ngày, tỷ lệ nảy mầm cao nhất chỉ (34,26 ± 3,21)%. Xử lý nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn (9 ngày bảo quản ẩm ở 5,10,15oC) đã tăng tỷ lệ nảy mầm lên (73,06 ± 2,12)%,(83,14 ± 3,25)% và(72,13 ± 3,52) % . So sánh các thí nghiệm bảo quản và xử lý nhiệt độ thấp sau bảo quản ngắn hạn cho thấy: với sự gia tăng thời gian bảo quản, tốc độ nảy mầm giảm nhanh trong khi xử lý nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn vẫn thúc đẩy sự nảy mầm của hạt lưu trữ trong thời gian dài.

 

Tạ Quốc Vượng

22

 

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG ÁNH SÁNG ĐẾN SỰ TÍCH LŨY GYPENOSID TỔNG SỐ VÀ MỐI TƯƠNG QUAN VỚI SỰ BIỂU HIỆN GEN ENZYM Ở GIẢO CỔ LAM

 

Ting Wang và cs.

Acta Pharmaceutica Sinica, 48(1):138-143. December, 2016

 

Cây thuốc giảo cổ lam có thể tổng hợp và tích lũy các gypenosid trong toàn cây. Squalene synthase (SS) và squalene epoxidase (SE) là các enzym mấu chốt trong sinh tổng hợp Gypenoside. Trong nghiên cứu này, sự tích lũy của các Gypenosid tổng số được phát hiện bằng phương pháp so màu và sự biểu hiện của gen SS và SE được định lượng bằng phương pháp Real-time PCR đối với cây con được trồng trong các nguồn sáng khác nhau. Kết quả cho thấy rằng chất lượng ánh sáng có ảnh hưởng đáng kể đến đến sự tích lũy gypenosid tổng số. Hàm lượng gypenosid tống số cao nhất được xác định khi trồng dưới ánh sáng đỏ, tiếp theo là ánh sáng xanh dương, ánh sáng trắng và hàm lượng thấp nhất khi trồng cây trong tối. Phân tích định lượng PCR đã cho thấy mức độ biểu hiện của gen SS và SE cũng chịu ảnh hưởng bới chất lượng ánh sáng. Sự biểu hiện của gen SS và SE ở mức độ cao được tìm thấy khi trồng cây dưới ánh sáng đỏ, tiếp theo là ánh sáng xanh dương và thấp nhất là trong tối.  Phân tích thống kê cho thấy rằng sự khác biệt lớn có thể thấy khi xử lý ánh sáng khác nhau đối với cả hàm lượng gypenosid và sự biểu hiện gen SS, SE. Hơn nữa, hàm lượng gypenosid tổng số tỷ lệ thuận với sự biểu hiện gen SS và SE. Những kết quả trên cho thấy rằng chất lượng ánh sáng đã điều chỉnh sự tích lũy gypenosid thông qua sự biểu hiện của các gen SS và SE đối với giảo cổ lam.

Phạm Ngọc Khánh

23

 

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI TRÀ GIẢO CỔ LAM (GYNOSTEMMA PENTAPHYLLUM) 

DỰA TRÊN NGUYÊN LÝ O2P

 

Advance Journal of Food Science and Technology 13(4): 147-153, 2017

 

Gynostemma pentaphyllum (GP) là một loài thực vật thuộc học Bầu bí, đây là loài thực vật duy nhất có hoạt chất ginseng saponin như các loài thực vật thuộc chi Panax, họ Araliaceae và có các gypenosid tương tự như các ginsenosid; cho nên GP còn được gọi là “nhân sâm phương nam” và “nhân sâm thứ hai”. Nhưng sự phát triển và sử dụng GP vẫn chưa được thị trường chấp nhận. Trong những năm gần đây, nhiều chuyên gia đã dành nhiều thời gian cho việc xác định thành phần hoạt chất của GP. Bài báo này tổng hợp những nghiên cứu gần đây về GP, bao gồm thành phần hoạt chất, tác dụng dược lý và khả năng ứng dụng. Từ góc độ chuỗi công nghiệp và cụm công nghiệp, nghiên cứu này đưa ra chiến lược tiếp thị cho GP liên quan tới sản xuất bằng cách sử dụng lý thuyết O2P. Mục đích là làm cho người tiêu dùng hiểu biết sâu sắc tác dụng dược lý của GP. Cùng thời điểm này, nghiên cứu cũng đưa ra được các sản phẩm trà GP cho các khách hàng tiềm năng.

Phạm Ngọc Khánh, Đào Thu Huế

24

NGHIÊN CỨU NHÂN NHANH VÀ BẢO TỒN NGUỒN GEN INVITRO CỦA 5 LOÀI THUỘC CHI GYNOSTEMMA TẠI QUẢNG TÂY

 

 

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả

tin tức khác