Danh mục sản phẩm
Lượt truy cập
  • 1
  • 136
  • 551,691

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 3/2020 - BẢY LÁ MỘT HOA

  20/11/2020
  1.  

 

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ PHÂN BIỆT PHẦN TRÊN MẶT ĐẤT CỦA HAI LOÀI BẢY LÁ MỘT HOA PARIS POLYPHYLLA VAR. YUNNANENSIS VÀ PARIS POLYPHYLLA VAR. CHINENSIS  BẰNG PHƯƠNG PHÁP UHPLC-QTOF MS KẾT HỢP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU ĐA BIẾN

 

Liang Y và cs.

Phytochemical Analysis (2019), 1-10

 

Giới thiệu: Nguồn nguyên liệu thân rễ chi Paridis đang bị cạn kiệt vì khai thác không kiểm soát. Do đó, phần trên mặt đất của P. polyphylla (bảy lá một hoa) được xem là nguồn nguyên liệu thay thế bổ sung. Tuy nhiên, cần có nhiều hơn những nghiên cứu về thành phần hóa học của bộ phận trên mặt đất để đánh giá sự khác biệt giữa 2 loài P. polyphylla Smith var. yunnanensis (PPY) và P. polyphylla var. chinensis (PPC).

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm thiết lập một nền tảng toàn diện để mô tả các saponin steroid hiện diện trong phần trên mặt đất của PPY và PPC, từ đó phân biệt 2 loài này.

Phương pháp: Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng siêu hiệu năng đầu dò tứ cực thời gian bay ghép khối phổ (UHPLC-QTOF-MS) để phân tích đặc điểm của các saponin steroid có trong phần trên mặt đất của 2 loài PPY và PPC. Mặt khác, phương pháp thống kê đa biến được sử dụng để phân biệt 2 loài và sàng lọc các thông số khác biệt. Thêm vào đó, kĩ thuật giải thuật di truyền tối ưu bởi mô hình hóa vector (GA-SVM) được phát triển nhằm dự đoán các mẫu P. polyphylla. Sự phân bố các saponin steroid trong 2 loài PPY và PPC được hiển thị trên một bản đồ nhiệt.

Kết quả: Xác định được đặc điểm 102 hợp chất có trong phần trên mặt đất của hai loài PPY và PPC. Một quy trình phân biệt rõ ràng giữa hai loài PPY và PPC được thiết lập, và đã sàng lọc được 35 saponin làm chất đánh dấu. Mô hình GA-SVM được xây dựng đã cho kết quả dự đoán chính xác đến 100%.

Kết luận: Nhiều saponin steroid được báo cáo trong thân rễ chi Paridis cũng hiện diện trong phần trên mặt đất của loài P. polyphylla. Các mẫu thử phần trên mặt đất của 2 loài PPY và PPC được phân biệt dựa trên nền tảng nghiên cứu đã xây dựng.

 

Nguyễn Nhật Minh

 

  1.  

CẤU TRÚC VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG LÃO HÓA CỦA POLYSACCHARID TỪ LÁ PARIS POLYPHYLLA

 

Shen S và cs.

International Journal of Biological Macromolecules107: 1613-1619, 2018

 

Để tận dụng tối ưu nguồn nguyên liệu Paris polyphylla (bảy lá một hoa), từ lá của loài này đã thu nhận được một polysaccharid đồng nhất (PPLP). Hợp chất này có khối lượng phân tử trung bình là 2,95×104 Da, phân tích thành phần monosaccharid cho thấy PPLP có chứa L-arabinose và D-galactose với tỉ lệ mol là 4,2:5,8. Dữ liệu methyl hóa và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) cho thấy khung sườn của PPLP bao gồm liên kết (1→6)-β-D-galactan với phần nhánh chứa nhóm arabinosyl liên kết kiểu (1→3). Ngoài ra, hoạt tính chống lão hóa của PPLD được đánh giá trên mô hình chuột nhắt trắng bị lão hóa gây bởi D-galactose. So sánh với nhóm chứng mô hình, nhóm thử PPLP có thể hiện sự ngăn cản hình thành malondialdedyd (MDA) có ý nghĩa thống kê và cải thiện nồng độ các enzym chống oxi hóa và khả năng chống oxi hóa tổng (TAOC) trong huyết thanh và trong gan chuột. Kết quả cho thấy tiềm năng chống lão hóa của PPLP.

 

Bùi Thế Vinh

 

  1.  

ĐỊNH LƯỢNG NHANH CHÓNG, ĐƠN GIẢN POLYPHYLLIN I, II, VI VÀ VII Ở CÁC THỜI ĐIỂM THU HOẠCH KHÁC NHAU CỦA BẢY LÁ MỘT HOA [PARIS POLYPHYLLA SMITH VAR. YUNNANENSIS (FRANCH.) HAND.-MAZZ] BẰNG PHƯƠNG PHÁP UPLC-MS/MS VÀ FT-IR

 

Wu Z và cs.

Journal of Natural Medicines, 71(1): 139-147, 2016

 

Bảy lá một hoa [Paris polyphylla Smith var. yunnanensis (Franch.) Hand.-Mazz, tên tiếng Hoa là "Dian Chonglou"] là dược liệu nổi tiếng của Trung Quốc, được biết đến với các hoạt tính kháng ung thư, chống đông máu và gây độc tế bào. Trong nghiên cứu này, phương pháp quang phổ hổng ngoại biến đổi (FT-IR) được kết hợp với phương pháp phân tích thành phần (PCA), phương pháp bình phương tối thiểu (PLSR) nhằm phân biệt các mẫu bảy lá một hoa ở các độ tuổi khác nhau và xác định hàm lượng của các hợp chất polyphyllin I, II, VI, and VII trong bảy lá một hoa. Bên cạnh đó, phương pháp UPLC-MS/MS được sử dụng để nghiên cứu sự thay đổi động học của bảy lá một hoa thu hoạch ở các độ tuổi khác nhau (4, 5, 7, 8, 9, 12 và 13 tuổi). Theo kết quả phân tích UPLC-MS/MS, thời gian thu hoạch tối ưu của bảy lá một hoa là 8 năm tuổi, tương ứng với hàm lượng của 4 hoạt chất cao nhất. Đối với kết quả mô hình PCA, độ tuổi của bảy lá một hoa được phân biệt một cách chính xác, ngoại trừ 2 mẫu 8 tuổi bị phân loại nhầm thành mẫu 9 tuổi. Kết quả dự đoán hàm lượng các hoạt chất polyphyllin I, II, VI và VII đạt độ chính xác cao với hệ số tương quan định lượng (R2) cao, các sai số bình phương trung bình RMSEE, RMSECV, RMSEP thấp. Như vậy, FT-IR kết hợp với hệ thống phân tích dữ liệu hóa học là phương pháp tốt cho độ chính xác cao để phân biệt các mẫu bảy lá một hoa ở các độ tuổi khác nhau và xác định hàm lượng các hoạt chất polyphyllin I, II, VI và VII trong bảy lá một hoa.

Nguyễn Nhật Minh

  1.  

XÁC ĐỊNH STEROID SAPONIN TOÀN PHẦN CỦA CÁC LOÀI PARIS KHÁC NHAU SỬ DỤNG FTIR KẾT HỢP VỚI HÓA TRẮC HỌC

 

Yuangui Yang và cs.

China Journal Of AOAC International Vol. 101, No. 3, 2018

 

Các hợp chất saponin của Paris spp. có tác dụng sinh học như hoạt tính kháng vi sinh vật, tăng cường miễn dịch và kháng ung thư. Trong nghiên cứu này, phổ hồng ngoại (FTIR) và sắc ký lỏng siêu hiệu năng (UHPLC) được sử dụng để xác định saponin steroid toàn phần ở các loài Paris khác nhau ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Với 52 mẫu được chuẩn bị, 26 mẫu được thực hiện với phương trình hồi quy bình phương nhỏ nhất từng phần (PLSR) và 26 mẫu còn lại thực hiện với thiết bị hồi quy support vector (SVMR) kết hợp với FTIR và UHPLC được nghiên cứu. Các thông số tối ưu C và γ đã được sàng lọc bởi thuật toán grid search với độ chính xác của thuật toán gần bảy lần. Kết quả cho thấy rằng việc tiền xử lý mẫu với sự kết hợp của biến số bình thường tiêu chuẩn, dẫn xuất 2 lần, hiệu chỉnh tín hiệu trực giao thì cho hiệu suất tốt nhất. Khi so sánh giữa mô hình SVMR và PLSR, tuyến tính PLSR thể hiện tốt hơn không tuyến tính SVMR trong việc xác định saponin steroid toàn phần ở các loài Paris khác nhau. Nồng độ saponin cao nhất được tìm thấy ở loài P. axialis của thành phố Bảo Sơn (40,92 ± 9,06 mg/g). Kết quả chỉ ra rằng sự tiếp cận này có thể sẽ cung cấp một quy trình phân tích nhanh và chính xác cho việc kiểm soát chất lượng của các loài Paris trong tương lai.

Nguyễn Văn Trí

  1.  

CÁC SAPONIN STEROID MỚI TỪ THÂN RỄ CỦA PARIS VIETNAMENSIS (BẢY LÁ MỘT HOA)  VÀ ĐỘC TÍNH TẾ BÀO

 

Yang Liu và cs.

Molecules, 23(3), 588, 2018

 

Bốn saponin spirostanol mới, được đặt tên là pavitnosides A-D (1 -4), với sáu saponin steroid được biết đến (5-10) đã được phân lập từ thân rễ của loài bảy lá một hoa (Paris vietnamensis). Cấu trúc hóa học của chúng được xác định dựa trên các nghiên cứu quang phổ và phương pháp hóa học. Các aglycon của pavitnosid B và pavitnosid C chưa được báo cáo trong các nghiên cứu trước đây. Độc tính gây độc tế bào của tất cả các saponin được đánh giá trên các dòng tế bào ung thư não người U87MG và U251. Spirostanol saponin 1 mới cho thấy hoạt tính chống tăng sinh yếu đối với dòng tế bào U87MG và các saponin đã biết 8 và 9 có độc tính tế bào điển hình trên hai dòng tế bào khối u, với các giá trị IC50 từ 2,16 đến 3,14, nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch nuôi cấy sơ cấp tế bào thần kinh đệm hình sao (astrocyte) ở người.

Nguyễn Văn Trí

  1.  

POLYPHYLLOSIDE A - F, SÁU SPIROSTANOL SAPONIN MỚI TỪ THÂN VÀ LÁ CỦA PARIS POLYPHYLLA VAR.CHINENSIS

 

Xu-Jie Qin và cs.

Bioorganic Chemistry 99 (2020) 103788

 

Nghiên cứu hóa thực vật đầu tiên về saponin steroid từ thân và lá của Paris polyphylla var. chinensis đã phân lập và xác định cấu trúc của sáu spirostanol saponin mới, được đặt tên là polyphyllosid A- F (1 -6), cùng với bốn hợp chất đã biết (7 -10). Cấu trúc của chúng được xác định thông qua dữ liệu phổ và phương pháp hóa học. Cả hai polyphyllosid A và B đều có một aglycon có liên kết đôi C-4 / C-5 và một nhóm hydroxy tại C-6, trong khi polyphyllosid C là saponin đầu tiên có một aglycon duy nhất có liên kết đôi C-6 / C-7 và một nhóm hydroxy ở vị trí C-5. Tất cả các saponin này được đánh giá hoạt tính gây độc tế bào trên năm dòng tế bào ung thư ở người được chọn. Trong số này, các saponin đã biết 7 và 10 thể hiện tác dụng gây độc tế bào đáng kể trên các tế bào HeLa với giá trị IC50 tương ứng là 4,16 và 4,45 μM. Mối tương quan cấu trúc-hoạt tính (SAR) của các chất được phân lập cũng đã được nghiên cứu. Phân tích tế bào học dòng cũng chỉ ra rằng saponin 7 có thể gây chết tế bào MDA-MB-231 phụ thuộc nồng độ. Saponin 7 đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến sự phân bố chu kỳ tế bào và gây ra sự ngừng pha G2/M trong các tế bào MDA-MB-231.

Nguyễn Thị Ngọc Đan, Nguyễn Thị Thu

 

  1.  

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ DƯỢC LIỆU BẢY LÁ MỘT HOA (PARIS POLYPHYLLA VAR. YUNNANENSIS) THEO THỜI GIAN THU HÁI BẰNG PHƯƠNG PHÁP UPLC-UV-MS VÀ PHỔ FT-IR KẾT HỢP THUẬT TOÁN BÌNH PHƯƠNG TỐI THIỂU TỪNG PHẦN

 

Yang YG và cs.

Biomed Chromatography, 2017 Jul; 31(7)

 

Một phương pháp định lượng nhanh đồng thời paris saponin I, paris saponin II, paris saponin VI và paris saponin VII đã được xây dựng và được thẩm định bằng UPLC-UV-MS. Phân tích bằng thuật toán PLS-DA dựa trên nền tảng UPLC và quang phổ hồng ngoại biến đổi (FT-IR) đã được áp dụng để đánh giá hàm lượng hoạt chất trong các mẫu Paris polyphylla var. yunnanensis (PPY) theo thời gian thu hái khác nhau. Kết quả định lượng cho thấy sự biến đổi hàm lượng các hoạt chất trong các mẫu PPY theo thời gian thu hái khác nhau có thể dẫn đến những tác dụng dược lý khác nhau; hàm lượng saponin tổng số của các mẫu PPY 8 năm tuổi cao hơn so với các mẫu khác. Kết quả phân tích PLS-DA dựa trên dữ liệu phổ FT-IR hiệu quả hơn UPLC khi phân biệt các mẫu PPY theo thời gian thu hái khác nhau.

Nguyễn Thị Hà Ly

  1.  

PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH LƯỢNG CÁC SAPONIN CHÍNH TRONG PARIS FORRESTII

 

Huang YY và cs.

China Journal of Chinese Materia Medica, 2017, 42(18):3452-3460

 

Thành phần hóa học của P. forrestii và P. polyphylla var. yunnanensis được nghiên cứu bằng phương pháp UPLC-Q-TOF MS với mục đích tìm ra loài Paris forrestii có thể thay thế thân rễ Paridis được hay không. Hàm lượng của 8 saponin steroid chính của 77 mẫu P. forrestii từ các vùng khác nhau được định lượng đồng thời bằng phương pháp HPLC-UV. Kết quả đã chỉ ra rằng, P. forrestii và P. polyphylla var. yunnanensis tương đồng về thành phần hóa học, có 22 pic chính chung là các dẫn xuất steroid. Trong quá trình phân tích đó, cũng tìm ra sự khác nhau về hàm lượng các saponin của các mẫu P. forrestii từ các vùng khác nhau. Hàm lượng của 4 saponin steroid trong Dược điển Trung Quốc dao động từ 0,068% - 3,30%, và hàm lượng cao nhất của 8 loại saponin steroid là 6,18%, trong khi thấp nhất là 0,71%. Hơn nữa, 78% các mẫu P. forrestii  đạt yêu cầu Dược điển Trung Quốc, có chất lượng tương đối ổn định và có thể được nghiên cứu thêm để thay thế cho thân rễ Paridis.

 

Hoàng Thị Tuyết

  1.  

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP UHPLC-UV-MS TRONG ĐỊNH LƯỢNG KẾT HỢP VỚI KỸ THUẬT DẤU VÂN TAY VÀ PHÂN TÍCH HÓA TRẮC HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ 6 LOÀI THUỘC CHI PARIS

 

 

Yang Y và cs.

Journal of Analytical Methods in Chemistry, 2016: 1 – 9

 

Nghiên cứu đã phát triển một phương pháp phân tích nhanh sử dụng sắc ký lỏng siêu hiệu năng (UHPLC) để xác định đồng thời polyphyllin I và polyphyllin II. Các phân tích hóa trắc học gồm phân tích thành phần chính (PCA) và thuật toán đa biến phân tích biệt thức kết hợp với bình phương tối thiểu từng phần (PLS – DA) kết hợp với phương pháp UHPLC được sử dụng để đánh giá 38 mẫu từ 6 loài Paris khác nhau. Phép chiếu biến quan trọng được áp dụng để lựa chọn các pic quan trọng. Trong khi đó, phương pháp phân tích sự tương đồng về dấu vân tay UHPLC cũng được sử dụng để đánh giá mẫu Paris polyphylla yunnanensis (PPY) và P. axialis (PA). Kết quả cho thấy rằng hàm lượng saponin trong PPY và PA thu được từ thành phố Bảo Sơn thuộc tỉnh Vân Nam khoảng trên 8,07 mg/g cao hơn so với các mẫu còn lại thuộc khu vực khác. Kết quả phân tích PLS-DA cho sự phân nhóm tốt hơn PCA khi phân loại các mẫu. Với kết quả UHPLC, khoảng thời gian lưu từ 20 – 27 phút được quét để xác định các píc điển hình dùng để phân nhóm các loài Paris khác nhau và phân theo nguồn gốc địa lý. Cả hai loài PPY và PA đều cho giá trị tương đồng về dữ liệu vân tay lớn hơn 0,80. Điều đó chỉ ra rằng việc phân tích định lượng kết hợp với phân tích hóa trắc học và phân tích tương đồng về dấu vân tay có thể dùng để đánh giá sự khác biệt giữa các loài Paris khác nhau một cách hiệu quả và toàn diện.

Vi Thị Tuyến

  1.  

CÁC SAPONIN STEROID PHÂN LẬP TỪ THÂN VÀ LÁ BẢY LÁ MỘT HOA (PARIS POLYPHYLLA VAR YUNNANENSIS)

 

Xu-Jie Qin và cs.

Phytochemistry, 2016, 121: 20-29

 

Nghiên cứu khảo sát thành phần hóa học thân và lá loài Paris polyphylla var. yunnanensis đã phân lập 12 hợp chất saponin steroid mới: chonglouosid SL-9–SL-20 cùng với 13 hợp chất đã biết. Cấu trúc các hợp chất được xác định dựa trên phân tích phổ kết hợp các phương pháp hóa học. 4 trong số 12 saponin có khung steroid aglycon mới. Các hợp chất saponin steroid được đánh giá tác dụng gây độc tế bào trên 2 dòng tế bào ung thư người HepG2 và HEK293 và tác dụng chống HCV. Một trong số các hợp chất saponin steroid đã biết có tác dụng gây độc tế bào tốt nhất với giá trị IC50 trên 2 dòng tế bào HepG2 và HEK293 lần lượt là 2,9 ± 0,5 μM and 5,0 ± 0,6 μM. Không có hợp chất nào thể hiện tác dụng chống HCV ở nồng độ 20 μM.

                            Nguyễn Thị Hằng

 

  1.  

PHƯƠNG PHÁP LC-MS/MS ĐỊNH LƯỢNG ĐỒNG THỜI 9 SAPONIN STEROID TỪ PARIS POLYPHYLLA VAR. TRONG HUYẾT TƯƠNG CHUỘT CỐNG TRẮNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU DƯỢC ĐỘNG HỌC

 

Yang G. và cs.

Journal of Pharmaceutical and Biomedical Analysis, 2017, 145: 675-681

 

Bảy lá một hoa (Paris polyphylla var) là một loại thảo dược được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc. Mục đích của nghiên cứu này là phát triển phương pháp sắc ký lỏng siêu hiệu năng ghép với detector khối phổ (UPLC–MS) để định lượng các thành phần chính (ví dụ, 9 saponin) từ P. polyphylla trong các mẫu huyết tương. Pha tĩnh được sử dụng là cột UItra BiPh (100 × 2,1 mm, 5 μm) và hệ dung môi pha động là acetonitril/acid formic 0,1% trong nước. Các chất phân tích được định lượng bằng máy quang phổ khối Waters XEVO TQ với chế độ MRM scan dương. Phương pháp kết tủa protein đã được sử dụng để chiết xuất các chất phân tích từ huyết tương chuột. Độ chính xác trung gian (trong ngày/khác ngày), độ lặp lại, độ thu hồi, ảnh hưởng nền và độ ổn định được đánh giá theo hướng dẫn của FDA. Kết quả cho thấy khoảng tuyến tính nằm trong khoảng nồng độ từ 2,4 - 1250 ng/mL. RSD của độ lặp lại và độ chính xác trung gian của các chất phân tích ở 3 nồng độ khác nhau đều dưới 15,0%. Độ thu hồi của các chất phân tích nằm trong khoảng từ 83,8% đến 109,4% và ảnh hưởng nền dao động từ 87,4% đến 105,4%. Độ ổn định của các hợp chất này trong huyết tương được đánh giá bằng cách phân tích ba nồng độ khác nhau sau khi bảo quản ở 25 oC trong 6 giờ và −80 oC trong 30 ngày. Tất cả các mẫu đều cho RSD nhỏ hơn 15,0%. Phương pháp được thẩm định đã được sử dụng thành công trong nghiên cứu dược động học (PK) sử dụng chuột Sprague Dawley (SD) với tiêm tĩnh mạch (i.v.) và uống (p.o.) chiết xuất P. polyphylla. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này có thể được sử dụng để phân tích các saponin steroid chính từ P. polyphylla trong các mẫu sinh học.

Nguyễn Đình Quân

 

  1.  

POLYPHYLLIN VII GÂY APOPTOSIS TẾ BÀO UNG THƯ PHỔI A549 THÔNG QUA ỨC CHẾ CON ĐƯỜNG PI3K/AKT VÀ NF-ΚB

 

Hao He và cs.

Molecular Medicine Reports, 2020, 21.2: 597-606

 

Polyphyllin VII là hoạt chất được phân lập từ Paris polyphylla (bảy lá một hoa), hay còn gọi là Chonglou ở Trung Quốc. Nghiên cứu này được thiết kế để tìm hiểu cơ chế tác dụng chống ung thư của polyphyllin VII trên các tế bào ung thư phổi người. Tác dụng độc tế bào của polyphyllin VII trên dòng tế bào ung thư phổi người A549 đã được phân tích, kết quả cho thấy giá trị IC50­ là 0,41 ± 0,10 µM ở 24 giờ. Cơ chế liên quan được nghiên cứu bằng kính hiển vi tương phản pha, kính hiển vi huỳnh quang, đếm dòng chảy tế bào và phân tích Western blot. Xử lý tế bào A549 với polyphyllin VII dẫn đến apoptosis. Pyrrolidin dithiocarbamat (PDTC), một chất ức chế NF-κB và wortmannin, một chất ức chế PI3K đều làm giảm tỷ lệ tế bào A549 sống khi được xử lý với polyphyllin VII. Tỷ lệ của tế bào A549 bị apoptosis tăng khi có sự hiện diện của wortmannin và PDTC. Phân tích Western blot cho thấy việc xử lý tế bào với polyphyllin VII cho tác dụng điều hòa giảm PI3K, phosphorylated (p) -PI3K, Akt, p-Akt, NF-κB và p-NF-κB. Polyphyllin VII làm tăng hoạt tính caspase-3, tăng phân cắt poly-(ADP-ribose) polymerase, điều hòa giảm chất ức chế DNase được hoạt hóa bởi caspase và những tác dụng này được tăng cường khi có mặt của wortmannin hoặc PDTC. Kết quả cho thấy polyphyllin VII có thể gây apoptosis ở các tế bào ung thư phổi ở người A549 thông qua ức chế các con đường PI3K/Akt và NF-κB.

Lê Thị Loan

  1.  

PARIS SAPONIN H ỨC CHẾ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN NGƯỜI (HCC) THÔNG QUA BẤT HOẠT CON ĐƯỜNG WNT/Β-CATENIN IN VITRO VÀ IN VIVO

 

Chen Tiezhu và cs.

International Journal of Clinical and Experimental Pathology, 2019, 12.8: 2875

 

Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong liên quan đến ung thư trên thế giới. Paris polyphylla (Bảy lá một hoa), hay còn được gọi là Chonglou ở Trung Quốc, được sử dụng trong dân gian như một vị thuốc trị ung thư. Paris saponin H (Ps H) đã được báo cáo là một hoạt chất tiềm năng có tác dụng chống ung thư từ Paris polyphylla. Tuy nhiên, vai trò của Ps H trong ung thư biểu mô tế bào gan chưa rõ ràng.

Phương pháp: Các tế bào PLC/PRF/5 và Huh7 được tiếp xúc với Ps H. Khả năng tồn tại, di chuyển và xâm lấn của tế bào được đánh giá bằng xét nghiệm CCK-8, EMT và Transwell tương ứng. Phương pháp Western blot được sử dụng để đánh giá biểu hiện của caspase 3, E-cadherin, vimentin, β-catenin, p-GSK-3β và GSK-3β. Apoptosis được đánh giá bằng phương pháp dòng chảy tế bào và xét nghiệm hoạt tính caspase 3. Đối với các thử nghiệm in vivo, các khối u ghép dị loài (xenograft) được tạo ra từ các dòng tế bào PLC/PRF/5.

Kết quả: Ps H làm giảm khả năng sống sót và gây ra quá trình apoptosis ở tế bào HCC một cách phụ thuộc liều; ức chế EMT và khả năng xâm lấn. Ps H làm giảm sự biểu hiện của β-catenin và p-GSK-3β; ngoài ra, sự giảm biểu hiện của β-catenin do Ps H gây ra làm ức chế chu trình tế bào của tế bào PLC/PRF/5. In vivo, việc điều trị bằng Ps H có tác dụng ức chế sự phát triển của khối u trong mô hình ghép dị loài ung thư biểu mô tế bào gan (HCC xenograft).

Kết luận: Ps H ngăn chặn sự phát triển của tế bào HCC thông qua làm giảm biểu hiện β-catenin in vitro và ức chế sự phát triển của khối u ghép dị loài in vivo, gợi ý rằng Ps H là ứng viên tiềm năng để điều trị ung thư biểu mô tế bào gan trên lâm sàng.

Lê Thị Loan

  1.  

XÂY DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP LS-MS/MS NHANH VÀ NHẠY ĐỂ PHÁT HIỆN POLYPHYLLIN II TRONG HUYẾT TƯƠNG CHUỘT CỐNG TRẮNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU DƯỢC ĐỘNG HỌC

 

Yang Qiaoling và cs.

Biomedical Chromatography, 2019, e4780

 

Polyphyllin II, một hợp chất saponin steroid chính được phân lập từ Paris polyphylla (bảy lá một hoa), có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý. Trong nghiên cứu này, phương pháp sắc ký lỏng khối phổ nhanh và nhạy đã được xây dựng và thẩm định để xác định polyphyllin II trong huyết tương. Polyphyllin II và polyphyllin VII (chuẩn nội) được phân tách bằng cột Waters Acquity™ HSS T3 và phân tích bằng máy quang phổ tứ cực ion hóa. Kết quả cho thấy phương pháp này có độ nhạy cao (giới hạn định lượng thấp hơn 0,5 ng/ml), độ chính xác (< 15 %) và khoảng tuyến tính từ 0,5 – 500 ng/ml (r > 0,99). Điều thú vị là độ nhạy trong nghiên cứu này cao hơn khoảng 10 lần so với nghiên cứu trước đây. Kết quả nghiên cứu dược động học của polyphyllin II trên chuột gợi ý rằng hợp chất này được hấp thu vào máu kém và đạt nồng độ cao nhất sau 3,67 – 5 giờ với thời gian bán thải chậm, khoảng 8,34 – 13,37 giờ. Sinh khả dụng là 6,1 – 8,2%. Kết quả chỉ ra rằng sự hấp thu polyphyllin II có thể chủ yếu dựa vào khuếch tán thụ động ở chuột. Nghiên cứu này đã cung cấp nhưng thông tin hữu ích cho những nghiên cứu dược động học của các saponin steroid khác.

Lê Thị Loan

  1.  

POLYPHYLLIN I KÍCH HOẠT AMPK ĐỂ ỨC CHẾ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ THÔNG QUA CẢM ỨNG TỰ THỰC BÀO

 

Wu và cs.

Archives of Biochemistry and Biophysics (2020): 108285

 

Polyphyllin I (PPI), một hoạt chất được phân lập từ thân rễ Paris polyphylla (Bảy lá một hoa), gây độc tế bào trên một số dòng tế bào ung thư. Nghiên cứu này được thiết kế để đánh giá PPI có ngăn ngừa sự phát triển của ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) hay không và nghiên cứu cơ chế phân tử. Protein kinase được kích hoạt bởi AMP (AMPK) liên quan đến sự hoạt hóa tự thực bào (autophagy) ở các mô khác nhau. Trong môi trường nuôi cấy tế bào NSCLC, PPI gây autophagy thông qua hoạt hóa AMPK và sau đó ức chế tín hiệu mTOR theo cách phụ thuộc nồng độ. Ngoài ra, sự kích hoạt autophagy gây ra bởi PPI đã bị đảo ngược bởi hợp chất C, là một chất ức chế AMPK. Tính toán docking trên phần mềm vi tính cho thấy PPI tương tác trực tiếp với thuốc có cấu trúc dị lập thể và vị trí chuyển hóa của AMPK nhằm ổn định hoạt tính của nó. Nghiên cứu in vivo chỉ ra rằng PPI ngăn chặn sự phát triển của NSCLC, làm tăng nồng độ của LC3-II (marker của autophagy), tăng phosphoryl hóa AMPK ở khối u phân lập được từ mô hình ghép dị loài (xenograft) NSCLC ở chuột. Ngoài ra, PPI có dược động học thuận lợi ở chuột. Tóm lại, PPI hoạt động như một chất hoạt hóa trực tiếp AMPK, gây autophagy dẫn đến ức chế sự phát triển của các tế bào NSCLC. Trong tương lai, PPI có thể được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Lê Thị Loan

  1.  

POLYPHYLLIN VI GÂY APOPTOSIS VÀ TỰ THỰC BÀO TRONG U TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM THÔNG QUA SỰ HOẠT HÓA JNK VÀ P38 ĐƯỢC TRUNG GIAN BỞI CÁC GỐC TỰ DO OXY

Li và cs.

OncoTargets and Therapy, 2020, 13, 2275

Đặt vấn đề: Polyphyllin VI (PPVI), một hoạt chất được chiết xuất từ một dược thảo truyền thống của Trung Quốc Paris polyphylla (bảy lá một hoa), có hoạt tính kháng u tiềm năng chống lại ung thư biểu mô tế bào gan, cũng như ung thư vú và phổi. Tuy nhiên, tác dụng của PPVI đối với bệnh u tế bào thần kinh đệm vẫn chưa được biết rõ.

Phương pháp: Năm dòng tế bào u thần kinh đệm (U251, U343, LN229, U87 và HEB) và một mô hình động vật đã được sử dụng trong nghiên cứu. Tác dụng chống tăng sinh của PPVI được xác định đầu tiên bằng thử nghiệm tăng sinh tế bào CCK-8 và xét nghiệm hình thành dòng vô tính, sau đó là các gốc tự do oxy (ROS), tiến trình chu kỳ tế bào và hiệu ứng apoptosis được đo bằng phương pháp đo dòng chảy tế bào. Ảnh hưởng của PPVI đến biểu hiện protein đã được định lượng bằng phân tích Western blot.

Các kết quả: Dữ liệu cho thấy PPVI ức chế sự tăng sinh của các dòng tế bào u thần kinh đệm bằng cách điều hòa pha G2/M. Ngoài ra, việc ủ các tế bào với PPVI đã thúc đẩy quá trình apoptosis, autophagy, tăng tích lũy ROS và kích hoạt các con đường JNK và p38 được điều hòa bởi ROS. Mặt khác, N-acetyl cystein, một chất ức chế ROS, làm giảm tác dụng PPVI. Hơn nữa, các chất ức chế JNK và p38 làm mất tác dụng của PPVI-gây ra sự tự thực bào và apoptosis trong các tế bào u thần kinh đệm. Các thử nghiệm in vivo cho thấy PPVI ức chế sự phát triển khối u của dòng tế bào U87 ở chuột nude.

Kết luận: Nhìn chung, những dữ liệu này cho thấy PPVI có thể là một tác nhân trị liệu hiệu quả cho bệnh u tế bào thần kinh đệm.

Nguyễn Thị Thu

  1.  

POLYPHYLLIN VII LÀM GIẢM SỰ BIỆT HÓA TẾ BÀO HỦY XƯƠNG DO RANKL GÂY RA  THÔNG QUA ỨC CHẾ CON ĐƯỜNG TRAF6/C-SRC/PI3K VÀ SẢN SINH GỐC TỰ DO OXY

Zhou và cs.

BMC Musculoskeletal Disorders, 2020, 21(1): 1-10

 

Đặt vấn đề: Loãng xương là một bệnh xương nghiêm trọng trên toàn thế giới. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng của polyphyllin VII đối với sự hình thành các tế bào hủy xương từ các đại thực bào của tủy xương (BMM) và tiềm năng của nó như là một loại thuốc điều trị bệnh loãng xương.

Phương pháp: BMM được tạo ra để biệt hóa thành các tế bào hủy xương bằng RANKL và M-CSF. Các tế bào sau đó được điều trị với các nồng độ polyphyllin VII khác nhau. Xét nghiệm đo các gốc tự do oxy nội bào (ROS), xét nghiệm hình thành hố tái hấp thu (pit forming assay), nhuộm acid phosphatase kháng tartrat (TRAP) và đánh giá hoạt động TRAP, xét nghiệm khả năng sống của tế bào, xét nghiệm GTPase pull-down, nhuộm miễn dịch huỳnh quang, miễn dịch điện di và RT-PCR đã được thực hiện.

Kết quả: RANKL + M-CSF làm tăng đáng kể hoạt động TRAP, số lượng tế bào hủy xương, số lượng và diện tích khe lõm (lacunae), hàm lượng ROS nội bào, nồng độ protein của Nox1, TRAF6, c-Src và p-PI3K cũng như hàm lượng GTP-Rac1 được hoạt hóa đã bị ức chế đáng kể bởi polyphyllin VII theo cách phụ thuộc nồng độ.

Kết luận: Những phát hiện này cho thấy polyphyllin VII đã ức chế sự biệt hóa BMM thành các tế bào hủy xương thông qua việc ngăn chặn quá trình tổng hợp ROS mà được điều hòa bằng con đường dẫn truyền tín hiệu TRAF6-cSrc-PI3k bao gồm GTP-Rac1 và Nox1. Polyphyllin VII có tiềm năng là một loại thuốc điều trị loãng xương.

Nguyễn Thị Thu

  1.  

SOX7 CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC POLYPHYLLIN D LÀM NGỪNG CHU KỲ TẾ BÀO G0/G1 THÔNG QUA ĐIỀU HÒA GIẢM CYCLIN D1

 

Zheng và cs.

Acta Pharmaceutica, 2020, 70(2): 191–200

 

Tỷ lệ tử vong của ung thư tuyến tiền liệt (PCa) có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Nghiên cứu trước đây của chúng tôi cho thấy, vùng Y-box 7 xác định giới tính (SOX7) có biểu hiện thấp và hoạt động như một chất ức chế khối u trong các tế bào PCa. Trong nghiên cứu này, chúng tôi mô tả các tác động của polyphyllin D (PD) đối với sự tăng sinh và điều chỉnh chu kỳ tế bào của các tế bào PCa và liệu SOX7 có tham gia vào quá trình này hay không. Các tế bào PC-3 được nuôi cấy trong môi trường chứa PD trong 12, 24 và 48 giờ. Xét nghiệm MTT đã được sử dụng để nghiên cứu các tác động gây độc tế bào của PD. Chu trình tế bào được phân tích bằng cách sử dụng nhuộm propidium iodide (PI) và nồng độ protein được khảo sát bằng phương pháp phân tích Western blot. Kết quả của chúng tôi cho thấy biểu hiện thấp của SOX7 trong các mô/tế bào PCa so với các tế bào không có khối u / tế bào RWPE-1 của chúng. Hơn nữa, PD đã ức chế sự tăng sinh của các tế bào PC-3 theo cách phụ thuộc vào liều và thời gian. PD gây ra ngừng chu kỳ tế bào G0/G1, trong khi cùng điều trị với RNA can thiệp ngắn nhắm mục tiêu SOX7 (siSOX7) đã đảo ngược tác dụng này. PD điều hòa giảm SOX7, cyclin D1, kinase 4 phụ thuộc cyclin (CDK4) và biểu hiện kinase 6 phụ thuộc cyclin (CDK6) theo cách phụ thuộc vào liều, trong khi kết hợp điều trị bằng siSOX7 và PD đã phục hồi biểu hiện cyclin D1 bị ức chế bởi PD. Tuy nhiên, không có sự thay đổi rõ ràng được quan sát trong biểu hiện CDK4 hoặc CDK6. Những kết quả này chỉ ra rằng SOX7 có liên quan đến việc PD gây ngừng chu kỳ tế bào PC-3 thông qua việc điều hòa giảm cyclin D1.

Nguyễn Thị Thu

  1.  

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA POLYPHYLLIN I GÂY APOPTOSIS TRONG TẾ BÀO HEPG2 THÔNG QUA SỰ CHẾT FAS VÀ CÁC CON ĐƯỜNG TY THỂ

Zeng và cs.

Toxicology Mechanisms and Methods, 2020: 1-26

 

Mục đích: Polyphyllin I, một saponin steroid trong thân rễ Bảy lá một hoa, có triển vọng ứng dụng rộng rãi trong phòng ngừa và điều trị ung thư. Mục đích của nghiên cứu này là để xác định khả năng gây độc tế bào và cơ chế của Polyphyllin I trong các tế bào HepG2.

Phương pháp chính: Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng thử nghiệm MTT để đánh giá sự sống sót của tế bào. Tỷ lệ apoptosis của tế bào, sự phân bố chu kỳ tế bào, điện thế màng ty thể và mức độ gốc tự do oxy (ROS) được đo bằng phương pháp dòng chảy tế bào và biểu hiện của các protein liên quan đến apoptosis được xác định bằng phân tích Western blot.

Những phát hiện chính: Polyphyllin I làm giảm đáng kể khả năng sống của tế bào và gây ra apoptosis tế bào HepG2 phụ thuộc liều lượng và thời gian tiếp xúc. So với nhóm đối chứng, polyphyllin I có thể gây sản sinh ROS và sự khử cực của matrix metalloproteinase (MMP) trong các tế bào gan. Phụ thuộc vào liều polyphyllin I làm tăng sự giải phóng cytochrom c ty thể và nồng độ Fas, p53, p21 và tỷ lệ Bax/ Bcl-2, cũng như kích hoạt caspase-3, -8, -9 và sau đó phân hủy poly (ADP-ribose) polymerase (PARP). Việc làm ngừng chu kỳ tế bào pha G2/M được gây ra bằng cách tăng biểu hiện của p21 và cyclin E1 và làm giảm đáng kể biểu hiện của cyclin A2 và CDK2.

Ý nghĩa: Kết quả của nghiên cứu cho thấy polyphylin I ức chế sự tăng sinh và tăng trưởng tế bào bằng cách kích hoạt gây ngừng chu kỳ tế bào G2/M và gây ra apoptosis thông qua con đường apoptosis nội bào và ngoại bào để gây chết tế bào bằng cách tạo ra các gốc tự do oxy.

Nguyễn Thị Thu

  1.  

ĐỘC TÍNH TRÊN TẾ BÀO GAN CỦA PARIS SAPONIN I, II, VI VÀ VII TRÊN HAI DÒNG TẾ BÀO GAN HL-7702 VÀ HEPARG VÀ CƠ CHẾ TÁC DỤNG

Wang và cs.

Cells 8.7 (2019): 690

Thân rễ bảy lá một hoa là một loại thuốc được sử dụng phổ biến trên lâm sàng ở Trung Quốc, dựa trên các đặc tính dược lực học của các thành phần saponin. Bốn saponin chính trong thân rễ bảy lá một hoa được xác định là saponin I, II, VI và VII. Hiện nay, nhiều chú ý tập trung vào tác dụng chống ung thư của thân rễ bảy lá một hoa qua hoạt tính gây độc tế bào trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau. Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu độc tính tế trên bào gan của bốn saponin trong thân rễ bảy lá một hoa và cường độ tương đối của tác dụng độc tế bào của chúng. Kết quả thấy rằng bốn saponin này có độc tính với hai dòng tế bào gan-HL-7702 và HepaRG. Độc tính tế bào của bốn saponin trên hai mô hình tế bào đã được so sánh. Một trong những saponin có độc tính tế bào mạnh nhất là paris saponin I (PSI). PSI được sử dụng để xác định cơ chế gây độc tính trên tế bào gan. Kết quả từ các thử nghiệm MTT đã chứng minh rằng bốn saponin gây ra apoptosis ở hai mô hình tế bào gan, tác dụng phụ thuộc liều và thời gian. Bên cạnh đó, nhuộm huỳnh quang 4′,6-diamidino-2-phenylindole (DAPI) được sử dụng để quan sát sự thay đổi hình thái của các tế bào HepaRG sau khi xử lý với saponin PSI. Ngoài ra, khi nồng độ tăng lên, sự giải phóng lactat dehydrogenase (LDH) từ tế bào do PSI gây ra cũng tăng lên dần dần. Ngoài ra, PSI làm tăng nồng độ của các gốc tự do oxy (ROS) và chặn pha S và pha G2 của chu kỳ tế bào trong các tế bào HepaRG. Thử nghiệm Western blot chỉ ra rằng PSI tăng cường điều chỉnh mức độ biểu hiện protein của p53, p21 và Fas. Hơn nữa, những thay đổi do PSI gây ra trong protein p53 đã làm tăng tỷ lệ Bax/bcl-2, dẫn đến việc tăng cường giải phóng cytochrom c ty thể, kích hoạt caspase-3, -8 và -9, poly-ADP ribose polymerase (PARP), và cuối cùng là gây apoptosis. Tăng hoạt hoá caspase-8 bởi protein Fas, dẫn đến việc kích hoạt caspase-3 và protein PARP xuôi dòng của nó, dẫn đến gây apoptosis tế bào. Các kết quả này cho thấy PSI gây ra apoptosis trong tế bào HepaRG thông qua con đường kích hoạt ROS và thụ thể tự hủy. Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy độc tính trên tế bào gan của các saponin trong thân rễ bảy lá một hoa nên được xem xét trong ứng dụng lâm sàng của vị thuốc này. Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu còn cung cấp một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về tác dụng chống ung thư của thân rễ Bảy lá một hoa.

Vũ Thị Diệp

  1.  

PARIS SAPONIN II ỨC CHẾ SỰ PHÁT SINH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG THÔNG QUA ĐIỀU HÒA SỰ PHÂN CHIA CỦA TY THỂ VÀ CON ĐƯỜNG NF-ΚB

Chen và cs.

Pharmacological Research 139 (2019): 273-285

 

Ung thư đại trực tràng (CRC) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới. Bằng chứng thu được cho thấy các chức năng của ty thể có liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh ung thư bao gồm CRC. Paris Saponin II (PSII), một saponin chính được chiết xuất từ ​​thân rễ bảy lá một hoa (Paris polyphylla), nổi lên là một tác nhân kháng ung thư tiềm năng. Tuy nhiên, tác dụng của PSII trên CRC và cơ chế tác dụng vẫn chưa được biết rõ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy rằng PSII gây ra apoptosis và ức chế sự hình thành cụm tế bào trong các tế bào HT 29 và HCT 116, và làm gián đoạn chu kỳ tế bào ở pha G1. PSII đã ức chế quá trình phosphoryl hóa ERK1/2 và sự chuyển vị của ty thể của protein liên quan đến chức năng 1 (Drp1) bằng cách khử phosphoryl hóa Drp1 tại Ser616, dẫn đến ức chế chức năng phân chia của ty thể (mitochondrial fission). PSII cũng ức chế hoạt hóa NF-κB do ức chế chuyển vị IKKβ và p65. Sự phá hủy Drp1 đã làm giảm đáng kể sự biểu hiện hạt nhân của p65 và các gen đích của nó là cyclin D1 và c-Myc trong tế bào HCT 116, xác nhận mối liên hệ giữa chức năng phân chia của ty thể và con đường NF-κB. Sự bất hoạt Drp 1 đã tăng cường tác dụng ức chế của PSII đối với sự phosphoryl hóa p65 và sự biểu hiện của cyclin D1 và c-Myc, cho thấy tác dụng ức chế của PSII trên cyclin D1 và c-Myc có liên quan đến sự ức chế hoạt hóa Drp1 và NF-κB. Một nghiên cứu in vivo đã chứng minh PSII giảm đáng kể kích thước khối u cấy ghép và ức chế sự phosphoryl hóa ERK1/2 và Drp1 tại Ser616. Tóm lại, các kết quả của chúng tôi cho thấy PSII có thể ức chế sự phát sinh ung thư đại trực tràng, ít nhất là một phần, thông qua điều hòa chức năng phân chia của ty thể và con đường NF-κB

Hình ảnh tóm tắt:

 

Vũ Thị Diệp

  1.  

PARIS SAPONIN VII TĂNG CƯỜNG SỰ NHẠY CẢM CỦA TẾ BÀO HEPG2/ADR VỚI ADRIAMYCIN THÔNG QUA ĐIỀU HÒA CON ĐƯỜNG TÍN HIỆU PI3K/AKT/MAPK

Tang GongEn và cs.

The Kaohsiung Journal of Medical Sciences 2020 Feb; 36(2):98-106

 

Để nghiên cứu ảnh hưởng của Paris saponin VII (PS VII) qua trung gian là con đường truyền tín hiệu PI3K/AKT/MAPK đối với độ nhạy của tế bào HepG2 kháng adriamycin (HepG2/ADR) đối với adriamycin (ADR). Tỷ lệ ức chế sự tăng sinh được phát hiện bằng thử nghiệm MTT. Kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy được sử dụng để kiểm tra sự tích lũy nội bào của ADR. Các biểu hiện của gen kháng thuốc (P-gp, MRP và BCRP) đã được phát hiện bằng qRT-PCR, apoptosis tế bào bằng nhuộm màu Annexin-V-FITC/PI và biểu hiện các protein liên quan đến kháng thuốc, các protein liên quan đến apoptosis và các protein liên quan đến con đường PI3K/AKT/MAPK được xác định bằng phương pháp Western blot. Các tế bào HepG2/ADR và ​​HepG2 được ủ với PS VII (0,88, 1,32, 1,98 và 2,97 μM) trong 48 giờ cho thấy tăng tỉ lệ ức chế sự tăng sinh tế bào phụ thuộc liều. Các tế bào HepG2 / ADR được ủ với PS VII (0,88, 1,32, 1,98 μM) trong 48 giờ cho thấy IC50 của ADR giảm. So với các tế bào HepG/ ADR được ủ với ADR (5 nM), những tế bào được ủ với PS VII (≤1,98 μM) và ADR (5 nM) cho thấy tăng tích lũy ADR, giảm biểu hiện của gen kháng thuốc, tăng apoptosis tế bào với Bax không được kiểm soát và phân giải caspase-3 và điều hòa giảm Bcl-2, cũng như ức chế con đường PI3K/AKT/MAPK. Ngoài ra, sự kết hợp của ADR (5 nM), PS VII (1,98 μM) và LY294002 (chất ức chế PI3K/AKT, 20 μM)/SB203580 (chất ức chế P38, 20 μM) trong 48 giờ có thể làm giảm thêm khả năng sống sót của tế bào HepG2/ADR, nhưng gây ra apoptosis tế bào, kèm với giảm biểu hiện của các gen kháng thuốc. PS VII có thể điều hòa giảm biểu hi

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả